Tìm hiểu những mệnh danh trong kinh phương
Đối với việc tổ chức và phân loại phương tễ, nội kinh đã qui định rõ, như chí chân yếu đại luận nói: “chữa chủ bệnh là quân, giúp đỡ quân là thần, đi theo thần gọi là sứ”, tức là hàm nghĩa quân, thần, tá, sứ” làm quy chế là bố cục vô cùng chặt chẽ, xin lấy tổ chức ma hoàng thang làm chứng minh/ ma hoàng thanh do bốn vị thuốc ma hoàng, quế chi, hạnh nhân, cam thảo hình thành, chủ trị thương hàn biểu thực chứng. Trong bài có ma hoàng vị cay tính ấm, tác dụng phát hãn giải biểu, tuyên phế, bình suyễn làm quân - lấy quế chi vị cay tính ấm, ôn kinh giải cơ, giúp ma hoàng phát hãn giải biểu làm thần, lấy hạnh nhân vị đắng tính ấm giúp cho ma hoàng tuyên phế bình suyễn làm tá; lấy trích cam thảo vị ngọt tính ấm, điều hoà các vị thuốc làm sứ, về phân loại phương tễ cũng được ghi chép từ sách nội kinh, ví dụ Chí Chân yếu đại luận sách Tố Vấn có nói: “chữa bệnh có hoãn, cấp; phương thuốc có đại, tiểu” và ‘bổ ở trên chữa ở dưới dùng phép hoãn, bổ ở trên chữa ở dưới dùng phép cấp”; lại nói: “quân một thần hai, số lẻ để điều chế; quân hai thần bốn; số chẵn để điều chế”. Đó là thuyết minh sự lập pháp chế phương, nên căn cứ vào tình trạng tật bệnh nặng hay nhẹ, hoãn hay cấp mà phối ngũ vị thuốc, linh hoạt vận dụng liều lượng. Người đời sau giải trình ý nghĩa này, mà định ra “thất phương” như Thành Vô Kỷ nói: “chế phương thuốc để dùng, đó là thất phương địa, tiểu, hoãn, cấp, cơ, ngẫu và phức phương”.
Trương Trọng Cảnh đời hậu Hán sáng tác Thương hàn tạp bệnh luận mà đời sau gọi là Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược. Căn cứ vào thực tiễn lâm sàng, sưu tầm được 314 phương thuốc có hiệu quả (có phương thất lạc) phép tắc chế những phương này dựa vào tư tưởng chỉ đạo chế phương từ nội kinh; đối với tổ chức và gia giảm biến hoá bài thuốc có qui của rất chặt chẽ, từ chứng mà lập pháp, từ pháp mà chế phương, điều khiển phương trên vị thuốc, tri thức về phương tễ học rất đầy đủ, hoàn chỉnh, mở rộng phạm vi phát triển y học cho đời sau. Vì vậy đời sau mới tôn tác phẩm của Trọng Cảnh là: “Ông tổ của phương thư” gọi những phương thuốc ghi trong Thương hàn luận, Kim quỹ yếu lược là “kinh phương”. Rõ ràng mệnh danh “kinh phương” là rất có ý nghĩa, giới thiệu sơ lược như sau:
1 - Mệnh danh theo phương vị
Lấy phương vị để mệnh danh, điều trị đại nhiệt, đại khát, đại hãn và mạch hồng đại dùng bài bạch hổ thang, sở dĩ gọi là bạch hổ, tức là kim thần ở phương tây, phương thuốc này có thể thanh phế kim mà tả vỵ hoả, cho nên gọi tên là bạch hổ thang.
Đại kiến trung thang, tiểu kiến trung thang, hoàng kỳ kiến trung thang là những phương thuốc chữa tỳ vị hư hàn; tỳ thuộc thổ trong ngũ hành, phương vị ở giữa; kiến trung là làm mạnh tỳ vỵ. Lý trung thang là phương thuốc chữa thái âm quyết nghịch, tư lợi không khát, mạch trầm vô lực. Trọng Cảnh nói: “lý trung là điều lý trung tiêu”. Chân vũ thang là phương thuốc bổ thận dương, tráng hoả mà lợi thuỷ; chân vũ là thảy thần phương bắc, với ý nghĩa hoả ở trong thận đủ thì thuỷ sẽ về nguồn cho nên đặt tên là chân vũ.
2 - Mệnh danh theo công dụng của phương thuốc
Đại thanh long thang lấy theo ý nghĩa thanh long quẫy lên mà mây bốc lên, mưa giáng xuống, ngụ ý uất nhiệt trừ ngay mà giải được phiền táo. Thừa khí thang chủ yếu chữa các chứng đại thực, đại táo, đại kiên, đại mãn, đại bĩ, công hiệu là hạ mạnh nhiệt kết, làm cho vy khí thừa cơ hội thuận xuôi xuống, cho nên lấy tên là thừa khí thang. Để đương thang có công lao chống trọi với xúc huyết, bài thuốc có tác dụng công trục xúc huyết cho nên có tên là để đương. Ôn kinh thang có thể làm cho huyết ấm mà chảy xuôi, huyết lưu thông thì khỏi cái lo huyết ứ đọng, ý nghĩa cũng là ở đó.
3 - Mệnh danh theo hình tượng chứng bệnh
Ví dụ như ở bệnh bôn đồn có chứng trạng từ bụng dưới xông ngược lên yết hầu, đau bụng và nóng rét qua lại v.v... giống như con lợn con lấy mông rũi ngược lên, cho nên tên phương thuốc là bôn đồn thang. Việt tỳ thang dùng đến chữ việt, theo sách Hoài nam tử mục thảo thuật có nói: “Tinh thần mệt nhọc thì “việt” là có ý nói như “ly” như “tán”; tỳ có ý nghĩa như thời phong kiến bọn giàu có gọi người hầu giá; phương thuốc này có công dụng giúp tỳ dương ở trong và mở tấu lý bên ngoài, khiến cho phong thuỷ theo mồ hôi mà vượt ra.
4 - Mệnh danh theo bộ vị chữa bệnh
Như chữa chứng biểu tà chưa giải mà thầy thuốc lại dùng thuốc hạ, tà nhiệt bị uất kết hãm ở trong hung nên dùng hãm hung thang. Điều trị dưới tâm (vùng vỹ quản) bĩ đầy cho uống ngũ tả tâm thang. Còn có đình lịch đại táo phế thang vì loại bệnh tà sáp thực, phế khí bị dồn ép, để giải bỏ chứng khí suyễn làm cho không nằm được, cho nên dùng vị đắng lạnh của đình lịch sử để thanh nhiệt tả phế, vì sức thuốc quá mạnh, phối hợp với vị ngọt ấm của đại táo để điều hoà dược tính. Tứ nghịch thang, sở dĩ tên bài thuốc là tứ nghịch vì chủ yếu để chữa bệnh ở kinh thiếu âm bốn chân tay đều quyết nghịch cho nên đặt tên là thế.
5 - Mệnh danh theo màu sắc của dược vật
Ví dụ như để chữa hạ lợi đau bụng, đại tiện ra mủ máu lâu ngày không khỏi thì cho uống đào hoa thang; trong phương thuốc chưa từng dùng vị “đào hoa” để làm thuốc, trong phương thuốc có các vị xích thạch chi, can khương và ngạch mễ, khi sắc được thuốc, nước thuốc có màu hồng như hoa đào, do đó mà đặt tên là đào hoa thang; để chữa bệnh thiếu âm hạ lợi, mạch vi cho uống bạch thông thang, dùng vị thuốc thông bạch có vị cay trơn, hành khí để lưu thông dương khí, giải tán hàn tà, cho nên mới đặt tên là bạch thông thang.
6 - Mệnh danh theo phương pháp điều trị
Ví dụ như bệnh dương minh tân dịch bị kiệt ở trong, trường vỹ khô ráo do đó mà đại tiện khô cứng, nên làm thông lợi bằng phép mật tiễn đạo; “đạo” tức là phép khơi thông hướng đạo, đó là một phương pháp chữa bệnh.
7 - Mệnh danh theo số lượng vi thuốc
Để chữa chứng huyền ẩm dưới sườn có thuỷ khí khi ho nhổ thì đau tới ngực và sườn, dưới tâm bĩ rắn, nôn khan, đoản hỏi, đau đầu hoa mắt v.v... cho uống thập tảo thang, trong phương thuốc dùng mười quả đại táo làm quân dược, cho nên có tên là thập tảo thang. Chữa bên ngoài có biểu chứng, bên trong có xúc thuỷ, cho uống ngũ linh tán, phương thuốc tổ chức bởi năm vị như trư linh, phục linh v.v... cho nên có tên là ngũ linh tán; lại còn có những phương hậu phác thất vật thang, hậu phác tam vật thang... v.v... đều là lấy số lượng vị thuốc để mệnh danh.
8 - Lấy vị thuốc chủ yếu để mệnh danh
Như điều trị thương hàn biểu thực chứng. Vị thuốc dùng ma hoàng làm vị thuốc chủ yếu, lấy tên là ma hoàng thang; chữa thái dương trúng phong biểu hư chứng, phương thuốc dùng quế chi làm vị thuốc chủ yếu, lấy tên là quế chi thang; điều trị chứng hồi quyết phương thuốc dùng ô mai làm vị thuốc chủ yếu cho nên mệnh danh là ô mai hoàn v.v...
Ngoài tám loại mệnh danh nói trên còn có trường hợp tổ chức bằng vị thuốc để mệnh danh như hậu phác sinh khương bán hạ cam thảo nhân sâm thang v.v...; có trường hợp phân lượng của vị thuốc lứon hay nhỏ mà đặt cho phương thuốc như: đại thừa khí thang, tiểu thừa khí thang, đại, tiểu sài hồ thang v.v... có trường hợp mệnh danh theo gia giảm vị thuốc, như quế chi gia hậu phác hạnh tử thang, quế chi khs thược dược gia phụ tử thang v.v...
Phương tễ học không ngừng sáng tạo và phát triển mệnh danh các phương tễ đời sau đặc biệt là trong xã hội phong kiến có không ít mệnh danh mang màu sắc thần bí, ví dụ như sách “chuẩn thằng” thì có quy lộc nhị tiêu cao; “chí công” thì có thiên vương bổ tâm đan; “nhậm yêm” thì có như thánh tán; “chính tông” có vạn linh đan v.v... Nhưng vô luận là mệnh danh như thế nào, chỉ cần có hiệu quả đối với chứng bệnh là có thể ứng dụng trên lâm sàng.








