Thượng Cát cổ kính
Trong dân gian còn lưu truyền rằng, Thượng Cát cổ xưa là một vùng đầm lầy, rừng rậm bên sông Hồng, được nhiều đời cư dân Việt cổ đến khai khẩn lập làng và lấy tên Nôm là kẻ Kẻ, hợp với kẻ Giầy, kẻ Gối... quần tụ thành vệ làng đông đúc ven sông Hồng. Bản thần phả ở đình làng Thượng Cát có ghi lại việc đầu công nguyên dân chúng vùng này nổi dậy chống lại chính quyền đô hộ nhà Đông Hán, do Quách Lãng cùng hai bà Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Nương lãnh đạo. Sau, họ kéo quân lên Hát Môn theo hai Bà Trưng, đánh giặc Tô Định, giải phóng đất nước. Trưng vương lên ngôi, phong Quách Lãng làm Đô Chiêu thảo sứ, phong Đinh Bạch, Đinh Tĩnh làm Bạch khấu công chúa, cho về trấn giữ vùng Thượng Cát. Khi Mã Viện kéo quân sang xâm lược, đạo quân do Quách Lãng chỉ huy chiến đấu đến cùng. Hậu thế nhớ ơn người hy sinh vì nước, cả vùng Thượng Cát thờ Quách Lãng và hai bà Đinh Bạch, Đinh Tĩnh làm thành hoàng.
Từ xưa xa, Thượng Cát đã được mở mang, phát triển, sinh sôi. Thượng Cát mở mang, phát triển về phía dưới mà có thêm làng Hạ Cát; và phát triển mở mang về phía đông sông nước mà có thêm làng mới Đông Ba ( "ba" có nghĩa là sông nước). Do vậy mà thành ba làng, vào thời Lê, nằm trong xã Thượng Cát, tổng Hạ Trì, huyện Từ Liêm. Sang thời Nguyễn, làng Hạ Cát đứng riêng thành một xã và đươc đổi gọi là Đại Cát... Mặc dù có những thay đổi về mặt hành chính, nhưng trong đời sống văn hóa truyền thống, cả ba làng luôn nằm trong một vùng quê văn hiến tên Nôm là Kẻ, tên chữ là Thượng Cát. Đây là một vùng quê danh tiếng của Thăng Long, từ cổ xưa đã có nhiều tài năng xuất chúng cả về võ công, cả về văn học.
Ngoài ba anh em Quách Lãng, Đinh Bạch, Đinh Tĩnh với công tích từ thời Hai Bà Trưng, như đã nêu ở trên, ở đây còn dấu tích lịch sử nữa, là bãi đất Quân Thần Châu (Bãi Vua, tôi). Đây là nơi phân chia ranh giới của Lý Phật Tử và Triệu Quang Phục, từ thế kỷ thứ VI. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi việc: khi Triệu Quang Phục xưng vương, hiệu là Triệu Việt Vương, đã không nỡ cự tuyệt Lý Phật tử, "bèn cho chia địa giới ở bãi Quân Thần... cho Lý Phật Tử ở phía Tây". Địa điểm này, sau là ranh giới giữa Thượng Cát và Hạ Cát. ở bên Hạ Cát còn một dấu tích lịch sử nữa, gọi là Vườn Hồng, là nơi xưa có nền nhà cũ của một viên tướng họ Vũ, làm Đại tướng nhà Tây Sơn. Vùng này có quãng đê Hồ Đồng thường bị rò rỉ, rất yếu, nước lên to là sạt vỡ. Đại tướng họ Vũ có lần đau bụng nguy kịch, được thầy lang trong làng chữa khỏi, sau đó ông cho binh sĩ giúp dân đắp cho quãng đê trở nên chắc chắn. Về sau, ông bị Gia Long giết, dân đã lập đền thờ ông. Thượng Cát còn có danh tướng Đinh Tuấn, đời Trần, từng chỉ huy 5 vạn quân chặn giặc Nguyên Mông ở Bạch Hạc. Ông đã hy sinh anh dũng, được vua Trần phong là Linh thông Đại Vương thượng đẳng Phúc thần.
Có thể nói, hệ thống đình, chùa, đền, miếu của làng Thượng Cát đã được nhân dân trong vùng gìn giữ, trân trọng, nên được bảo lưu tương đối nguyên vẹn đến hôm nay. Do có sự chuyển dòng của sông Hồng, nên nhân dân trong làng đã hàng chục lần đắp lại đê, lui vào đất ruộng. Nhưng cuộc sống ở đây vẫn kiên cường, trụ vững. Đình Thượng Cát tọa lạc trên thân đất ngay bên chân đê, nơi được gọi là Dốc Đình. Theo tấm bia trụ ở trước cửa đình, ngôi đình được dựng vào ngày tốt tháng Trọng Đông (tháng 11 âm lịch) năm Chính Hòa thứ mười, 1789. Hiện còn lưu giữ ở đình 33 đạo sắc phong của các vua thời Lê, Nguyễn và Tây Sơn; còn đôi sấu đá tạo tác từ thời Lê và những long ngai, hoành phi, câu đối có giá trị văn hóa lịch sử. Chùa làng Thượng Cát tọa gần đình làng, tên chữ là Kỳ Vũ Tự. Xa xưa, chùa có tên Cổ Giá, là ngôi chùa lớn và cổ kính, một di tích tôn giáo rất quý. Chùa được xây dựng quy mô vào năm Vĩnh Tộ thứ hai, 1620.
Hiện nay chùa còn lưu giữ tấm bia đá dựng năm 1620 ghi dựng việc xây chùa, 4 tấm bia hậu một khánh đồng, nhiều câu đối, hoành phi và đồ thờ có giá trị. Đặc biệt hơn là 51 pho tượng tròn tạo tác theo nghệ thuật chạm khắc thế kỷ XVII, XVIII, thiếp vàng lộng lẫy cùng quả chuông đồng. Chuông chùa Kỳ Vũ được tạo tác năm Thịnh Đức thứ ba, 1655, cao 136 cm, đường kính lớn 72 cm, có sáu núm gõ, quai chuông tọa hình đôi rồng đấu đuôi vào nhau rất sinh động, tinh sảo.
Chuông chùa Kỳ Vũ là một di vật cổ và thật quý hiếm của Hà Nội. Bài Minh khắc trên chuông có đoạn: “Thượng Cát, phía Nam có sông nước, núi chầu, thời nào cũng có người làm tướng đỗ đạt cao. Phía Bắc có dải sông uốn lượn, bến chợ ngựa xe tấp nập. Phía Đông là lỵ sở của hai Ty, bên ngoài tụ tập nhiều quan chức. Phía Tây có vọt cao lên ngọn Tam Đảo chầu về, trước có lâu đài xán lạn, cơ hồ thu nhập một bầu thế giới. Nơi đây anh linh, khiến mọi người thảy đều tôn kính phụng thờ...” Hai Ty mà bài Minh nói tới là Thừa Ty và Hiến Ty của trấn Tây Sơn, thời nhà Mạc. Từ bốn, năm thế kỷ trước, đây là nơi sinh sống và làm việc, giao lưu của không ít quan lại thân vương, quận chúa và cả các thương gia nước ngoài... Thượng Cát nằm bên sông Hồng, có các đầu mối giao thông quan trọng, nên có nhiều điều kiện phát triển kinh tế sớm. Bến Kẻ xưa kia nổi tiếng sầm uất, trên bến dưới thuyền, là nơi tập kết nhiều nông thổ sản từ miền ngược chuyển về, rồi từ đây về Thăng Long. Dân Thượng Cát giỏi canh tác lúa đồng và làm màu ngoài bãi. Ngoài sản xuất nông nghiệp, ở đây từ xưa đã có nghề ép dầu, nghề làm đậu phụ; nghề thêu cũng có từ nhiều đời trước, ba mươi năm trở lại đây đang phát triển mạnh.
Làng Thượng Cát còn có một di tích rất đáng kể, là đền Tam Thánh, tọa lạc trên một bán đảo nhô ra giữa hồ, ở phía trước cửa đình cũ làng, nép dưới bóng rợp cây cổ thụ. Xưa kia, vốn chỉ là một am nhỏ, đến năm Thành Thái thứ tư, 1892, các nho gia địa phương đã mở rộng thành đền Tam Thánh, đồng thời lập nên Hội Thiện. Trong đền, hiện còn 42 pho tượng thần của ba tôn giáo Nho, Phật, Lão. Trên ngôi vị cao nhất là tượng của Lạc Long Quân và Âu Cơ, hai vị tổ của dân tộc Việt. Nho giáo, có tượng Đức Khổng Tử, Phật giáo có tượng Đức Thích Ca, Bồ tát Quan Âm, Từ Đạo Hạnh...Lão giáo có tượng Thái Thượng Lão Quân, Hưng Đạo Đại Vương và vợ là Trần Nguyên Phi được phối thờ, rồi 12 pho tượng Tiên đồng, Ngọc nữ, Thánh mẫu... Đền Tam Thánh còn giữ được quả chuông đồng từ thời mới dựng. Năm 1907 nhiều nhà nho Thượng Cát tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục, đền thành nơi hội họp, đọc và bình giảng văn thơ yêu nước. Đông Kinh Nghĩa Thục bị đàn áp, các nhà nho tiêu biểu của Thượng Cát như Trần Thúy, Đàm Văn Tuyên, Nguyễn Văn Bảo bị chính quyền thực dân bắt giữ. Ông Trần Thúy bị đày ra Côn Đảo. Một thời gian sau, những người đứng đầu Hội Thiện, tiêu biểu là ông Đàm Hiến Chương, đã mở lớp học tại đền Tam Thánh, dạy chữ cho con em các gia đình nghèo trong làng...
Cho đến nay, Hội Thiện ở Thượng Cát vẫn hoạt động với các nội dung khuyến thiện và khuyến học, thất sự trở thành một nét đẹp truyền thống của vùng quê cổ kính và giàu truyền thống văn hóa này.
Nguồn:www.hanoimoi.com.vn16/6/06








