Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 02/12/2008 00:23 (GMT+7)

Thuốc an thần thalidomid: Quá khứ lận đận, triển vọng tương lai nhiều hứa hẹn

Quá khứ huy hoàng và tội lỗi

Thalidomid do hãng CIBA (Thụy Sĩ) tổng hợp, đưa vào thị trường Tây Đức đầu những năm 50 thế kỷ trước. Bấy giờ, các thuốc cổ điển như thuốc ngủ veronal (1903), gardenal (1912), thuốc chống nôn atropine (1927), scopolamin (1928) được biết là có độc cho thai, các thuốc tiến bộ hơn mãi sau này mới có như thuốc an thần chloropromazin (1952), benzodiazepam (từ 1961), thuốc chống nôn thuộc dẫn diphenylhydramin (từ 1980). Trong bối cảnh ấy, với tính năng an thần chống nôn cho người có thai, thalidomid được đánh giá là hữu hiệu an toàn, cho phép bán không cần đơn, từng tạo ra cơn sốt tiêu dùng, cuối thập niên 50 đã có mặt ở 46 nước.

Năm 1961, Widulind Lend, một thầy thuốc Đức bất ngờ phát hiện: một bà mẹ trong thời kỳ mang thai dùng thalidomid đã sinh ra một quái thai giống hải cẩu (phocomelia). Những năm kế tiếp đã có nhiều báo cáo, tổng kết lại, thalidomid gây ra khoảng 8.000 - 12.000 trường hợp quái thai như giống hải cẩu, mất chi, bất thường tim, thận, mắt, tai, hở mũi, hở vòm miệng. Với việc gây ra thảm họa khôn lường này, thalidomid bị rút khỏi thị trường.

Về sau, nghiên cứu sâu hơn dược lý của thalidomid mới hiểu ra rằng chính cấu trúc của nó gây ra “công” và cũng gây ra “tội”. Cấu trúc thalidomid có một vòng phthalamid, một vòng glutarimid. Thuốc là một hỗn hợp đồng phân Racemic (R). Đồng phân đối ảnh S(-) ức chế giải phóng TNF, trong khi dạng R(+) thông qua các thụ thể não trước, tạo ra tính an thần. Hoạt tính của vòng phthalamid liên quan đến việc gây quái thai. Một số tác giả cho rằng thalidomid ức chế mao mạch nên đã ngăn cản quá trình phát triển của các chi, một số tác giả lại cho rằng thalidomid ức chế yếu tố phát triển giống insulin (IGF) trên sự tạo sụn, phát triển chi của bào thai, gây nên quái thai.

Những ứng dụng hiện nay

Năm 1965, Jacob Sheiskin, một thầy thuốc Israel thử dùng thalidomid điều trị cho một bệnh nhân phong thể u ban đỏ ( ENL= erythema nodosum leprosum). Kết quả: người bệnh không những ngủ được mà còn lành cả những tổn thương trên da. Kế đó, các nghiên cứu mù đôi đã xác nhận kết quả này. Năm 1998, FDA cho phép dùng thalidomid để điều trị ENL thể vừa và nặng nhằm dự phòng tái phát bệnh. Quyết định này mở ra một thời kỳ nghiên cứu sử dụng lại thalidomid.

Cho đến nay, tổng kết thấy thalidomid có hiệu quả trên một số bệnh như: bệnh về da (ENL thể vừa và nặng, ngứa sẩn cục, mủ da hoại thư, liken phẳng, loét da áp-tơ, ban đỏ đa dạng, bệnh Leishamnia, chứng ngứa quang hóa, bệnh sarcoid da, một số u rắn) trong một số bệnh ung thư (loạn sản tủy, bệnh bạch cầu cấp tính thể tủy, carcinom tế bào thận, carcinom gan, ung thư tuyến tiền liệt, đại trực tràng, buồng trứng). Gần đây một số tác giả còn nghiên cứu điều trị viêm khớp dạng thấp, suy tim sung huyết, lao. Điều lý thú cơ chế ức chế tạo mạch, ức chế các yếu tố phát triển giống insulin gây ra quái thai của thalidomid, sau này lại được vận dụng vào trị liệu và cắt nghĩa một số hiệu quả của nó (như trong trị liệu ung thư).

Vẫn cần thận trọng với thalidomid

Ngoài gây quái thai thì thalidomid còn gây các triệu chứng thần kinh (ức chế, gây ngủ gà, chóng mặt, nhức đầu) gây viêm tắc mạch, ảnh hưởng đến chu kỳ kinh, làm suy buồng trứng, gây táo bón và có thể gây ra nhưng ít hơn triệu chứng phù, giảm bạch cầu, chậm nhịp tim, khô miệng, hạ huyết áp. Do vậy, nhà sản xuất thường có quy trình hướng dẫn cho thầy thuốc và người bệnh rất nghiêm ngặt.

Thalidomid được khuyến cáo chỉ nên dùng cho những bệnh mà các thuốc thông thường không đáp ứng. Không nên dùng thalidomid cho người mang thai. Việc gây quái thai của thalidomid rất nhạy và nghiêm trọng, cao nhất là từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 8 của thai kỳ. Trong thời kỳ này, chỉ cần dùng một lần là bị quái thai. Do thuốc chống chỉ định này là tuyệt đối. Cũng không nên dùng cho người có bệnh về thần kinh, người vận hành thiết bị hay lái xe.

Hướng đi đúng, nhưng...

Lịch sử y học thế giới ghi nhận có những chất bị lãng quên, có tác dụng ngược chiều, thậm chí bị rút khỏi thị trường nhưng về sau được dùng lại với mục đích khác rất có hiệu quả, tạo ra các nhóm thuốc mới: Isoniazid được tổng hợp năm 1912, nhưng bị quên lãng, mãi đến năm 1950 mới thực sự đưa vào chống lao. Thuốc chống trầm cảm (bd: imipramin) và sau đó hàng loạt thuốc trầm cảm 3 vòng khác ra đời là kết quả của việc kiên trì thử nghiệm trên chất G22355 có tính ngược hẳn lại khi nghiên cứu các thuốc chống hưng cảm của Công ty Geigy (Thụy Sĩ) năm 1955... Nhóm thuốc lợi tiểu thiazid là kết quả của việc thay đổi không ngừng các hợp chất sulfamid có hại (gây lợi niệu, làm mất cân bằng kiềm - toan, tạo nên sự “nhiễm acid chuyển hóa”) mà trong khi nghiên cứu sulfamid chống nhiễm khuẩn năm 1937 đã nhận thấy. Năm 1970, chlozapin được đưa vào thị trường, sau đó bị cấm vì làm giảm bạch cầu hạt, gây chết người nhưng ngày nay lại cho phép dùng khi mà các thuốc hướng thần khác không đáp ứng.

Thalidomid không phải ngoại lệ. Dựa trên nền của thalidomid các nhà nghiên cứu đã chế tạo ra các thuốc có hiệu lực tương đương nhưng ít độc hơn với hy vọng tìm ra một nhóm thuốc mới. Khởi đầu việc này là FDA cho phép lưu hành lenalidomid (2005), cho thử nghiệm lâm sàng actimid (2007). Đây là hướng đi đúng (tiết kiệm, không kém hiệu quả)... nhưng để làm được điều này thì việc kê đơn, theo dõi dùng thuốc cần phải được chu đáo.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

VUSTA bắt tay với Tập đoàn GFS thúc đẩy hệ sinh thái y tế số chủ động vì sức khỏe cộng đồng
Chiều ngày 14/5, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) và Tập đoàn GFS đã tổ chức hội nghị và lễ ký kết hợp tác triển khai chương trình y tế số và chăm sóc sức khỏe chủ động. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực phát triển then chốt của đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 57.
Vĩnh Long: Tôn vinh 88 trí thức tiêu biểu năm 2025
Sáng ngày 13/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã long trọng tổ chức Hội thảo khoa học “Chuyển đổi số và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW” gắn với lễ Vinh danh trí thức tiêu biểu năm 2025. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5.
Đắk Lắk: Hệ thống quản lý thư viện - văn thư tích hợp trí tuệ nhân tạo SmartLibDoc.AI
Đây là giải pháp đoạt giải Nhì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (khu vực phía Tây) giai đoạn 2024-2025. Giải pháp khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, xây dựng một cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất, tránh nhập liệu trùng lặp, dễ dàng tổng hợp báo cáo liên ngành; Giải quyết bất cập trong mượn - trả thủ công, thay bằng quản lý tự động, có nhắc hạn trả, có thống kê chính xác…
Sơn La: Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Ngày 12/5, tại Xã Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La, Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng, Đảng uỷ, HĐND, UBND xã Ngọc Chiến phối hợp tổ chức Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) và Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5).
Tuyên Quang: Hội thảo Bảo tồn, phát huy giá trị quần thể di sản Chè Shan tuyết
Chiều 12/5, tại khách sạn Mường Thanh, tỉnh Tuyên Quang, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo khoa học: “Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị quần thể di sản Chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện, sinh kế cộng đồng địa phương tỉnh Tuyên Quang”.