Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 31/10/2011 21:07 (GMT+7)

Thực trạng năng lực giáo dục bảo vệ môi trường của sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục tiểu học

2. Kết quả nghiên cứu thực trạng năng lực GDBVMT của SV ngành GDTH

2.1. Thực trạng nhận thức của SV về GDBVMT

2.1.1. Nhận thức của SV ngành GDTH về vị trí của GDBVMT ở cấp TH, chúng tôi đưa ra câu hỏi: theo bạn GDBVMT có vai trò quan trọng nhất đối với lứa tuổi nào? (xem bảng 1).

Bảng 1. Đánh giá của SV TH về vai trò của công tác GDBVMT cho HSTH

Lứa tuổi quan trọng nhất

Số lượng

Tỉ lệ %

Người lớn đã trưởng thành

0

0

SV đại học

33

6,6

HS trung học phổ thông

0

0

HS trung học cơ sở

0

0

HSTH

391

77,9

Trẻ em mầm non

78

15,5

Bảng 1, cho thấy: có 77,9% số người được hỏi cho rằng GDBVMT quan trọng nhất ở lứa tuổi HSTH. Như vậy, đa số SV ngành GDTH đánh giá cao vai trò, vị trí của công tác GDBVMT dành cho HSTH.

2.1.2 Nhận thức của SV ngành GDTH về mục đích của GDBVMT cho HSTH, chúng tôi đưa ra câu hỏi:Theo ý kiến của bạn GDBVMT cho HSTH nhằm những mục đích gì? Với 7 phương án lựa chọn SV đánh số thứ tự 1, 2, 3… 7 theo mức độ quan trọng từ cao đến thấp, quan trọng nhất đánh số 1.

Điểm cho mỗi sự lựa chọn của SV được quy định xếp thứ nhất: 7 điểm, thứ: 6 điểm… xếp thứ 7: 1 điểm. Tổng hợp số điểm của tất cả SV được hỏi và tính điểm trung bình (xem bảng 2).

Bảng 2. Nhận thức của SV ngành GDTH về mục đích của công tác GDBVMT cho HSTH

Mục đích của GDBVMT cho HSTH

Tổng số điểm

ĐTB

Thứ hạng

Hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp và nếp sống văn minh

2411

4,80

1

Làm cho môi trường trong sạch để tăng cường sức khỏe

1597

3,18

7

Giúp cho HS có những kiến thức nhất định về môi trường (MT)

1857

3,70

5

Hình thành một số kĩ năng BVMT

1938

3,86

4

Bồi dưỡng thái độ tích cực đối với MT

2249

4,48

3

Xây dựng những hành vi đúng đắn đối với MT

2389

4,76

2

Tạo cho HS có thói quen quan tâm đến những vấn đề MT và BVMT

1615

3,22

6

Bảng 2, cho thấy: Các tiêu chí mục đích GDBVMT được lựa chọn có thứ hạng cao là: hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp và nếp sống văn minh, thứ nhất; xây dựng những hành vi đúng đắn đối với môi trường, thứ hai; bồi dưỡng thái độ tích cực đối với môi trường, thứ 3.

Các tiêu chí mục đích GDBVMT được lựa chọn có thứ hạng thấp là: làm cho môi trường trong sạch để tăng cường sức khỏe (thứ 7); tạo cho HS có thói quen quan tâm đến những vấn đề MT (thứ 6); giúp HS có những kiến thức nhất định về môi trường (thứ 5).

Nhìn chung, SV ngành GDTH xác định mục đích của công tác GDBVMT cho HSTH chưa thống nhất, một số GV xác định tiêu chí mục đích chưa phù hợp với yêu cầu của GDBVMT cho HSTH; cụ thể: - Một trong những mục đích quan trọng hàng đầu của GDBVMT cho HSTH là "Tạo cho HS có thói quen quan tâm đến những vấn đề MT", ở đây sự lựa chọn cho tiêu chí này được xếp thứ 6, gần cuối trong bảng tiêu chí đưa ra; - Đa số SV ngành GDTH đều xác định tiêu chí "Hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp và nếp sống văn minh", tiêu chí này được xếp hạng cao nhất. trong khi đó, ở lứa tuổi HSTH thì đây chưa phải là mục đích số 1. Hơn nữa, điểm trung bình của thứ hạng cao nhất này cũng không cao, chỉ 4,8/7.

Trong mọi quá trình GD thì mục đích GD luôn là yếu tố chỉ đạo toàn bộ quá trình GD. Ở đây đối với công tác GDBVMT việc xác định mục đích SV chưa thống nhất. Chính vì thế, chúng ta cần có những giải pháp để giúp cho các nhà giáo dục trong tương lai xác định thống nhất về mục đích của công tác GDBVMT.

2.1.3 Nhận thức của SV ngành TH về nội dung GDBVMT cho HSTH: Chúng tôi đưa ra sử dụng câu hỏi: Theo bạn, nội dung giáo dục BVMT cho học sinh tiểu học bao gồm các vấn đề sau: với 6 phương án lựa chọn, SV đánh số thứ tự 1, 2, 3…6 theo mức độ quan trọng từ cao đến thấp, quan trọng nhất đánh số 1 và một phương án mở: người trả lời đưa ra phương án khác. Điểm cho mỗi sự lựa chọn của SV được quy định: xếp thứ nhất: 6 điểm, thứ 2: 5 điểm,…. Xếp thứ 6: 1 điểm. Tổng hợp số điểm của tất cả số người được hỏi và tính điểm trung bình (xem bảng 3).

Bảng 3. Nhận thức của SV ngành GDTH về mục đích của công tác GDBVMT cho HSTH

Nội dung GDBVMT cho HSTH

Tổng điểm

ĐTB

Xếp hạng

Kiến thức về MT

1836

3,65

3

Kiến thức về tác động qua lại giữa con người và MT

2166

4,31

2

Kĩ năng BVMT

1541

3,07

4

Biện pháp BVMT và phát triển bền vững

1329

2,64

5

Thói quen, hành vi BVMT trong cuộc sống hàng ngày

2740

5,46

1

Thực trạng MT địa phương

930

1,85

6

Những nội dung khác:

Không có ý kiến nào đưa ra

Nhận xét: Các tiêu chí nội dung được đánh giá cao là: thói quen, hành vi BVMT trong cuộc sống hàng ngày; kiến thức về MT; kiến thức về tác động qua lại giữa con người và MT; kiến thức về tác động qua lại giữa con người và MT.Các tiêu chí nội dung được lựa chọn có thứ hạng thấp: thực trạng môi trường địa phương; kĩ năng BVMT; biện pháp BVMT và phát triển bền vững. Không có ý kiến nào đưa ra tiêu chí nội dung khác về nội dung GDBVMT cho HSTH.

Có thể nói, các tiêu chí nội dung GDBVMT được đa số SV ưu tiên nhằm cung cấp kiến thức, bồi dưỡng kĩ năng BVMT và rèn luyện thói quen hành vi BVMT cho HSTH.

2.2. Thực trạng khả năng tác động GDBVMT cho HSTH của SV ngành GDTH

2.2.1. Về hình thức và biện pháp GDBVMT cho HSTH:Với câu hỏi "Xin bạn cho biết khả năng sử dụng các hình thức, biện pháp GDBVMT cho HSTH hiện nay của bạn như thế nào? Kèm theo 14 hình thức và biện pháp đưa ra, SV lựa chọn phù hợp với thực tế của mình, với 3 mức độ: sử dụng tốt, khó sử dụng và không sử dụng được (xem bảng 4).

Bảng 4. Khả năng sử dụng các hình thức và biện pháp GDBVMT cho HSTH của SV ngành GDTH

Hình thức và biện pháp

Khả năng sử dụng

Sử dụng tốt

Khó sử dụng

Chưa sử dụng được

SL

%

SL

%

SL

%

1. Lồng ghép vào các bài học có liên quan của chương trình

59

11,7

396

47

47

9,4

2. Xây dựng thành những bài học riêng về GDBVMT

70

13,9

347

69,1

85

16,9

3. Xây dựng những bài tập thực hành về thái độ, hành vi của HS về GDBVMT

60

11,9

264

52,6

178

35,4

4. Tổ chức nói chuyện chuyên đề về GDBVMT

37

7,4

377

75,1

88

17,5

5. Tổ chức tìm hiểu về MT địa phương

125

24,9

342

68,1

35

7,0

6. Tổ chức hội vui học tập có nôi dung GDMT

27

5,4

397

79,1

78

15,5

7. tổ chức tìm hiểu về MT nước ở địa phương

148

29,5

312

62,1

42

8,4

8.Tổ chức cho HS lao động, vệ sinh MT

502

100

0

0

0

0

8. Tổ chức cho HS trồng cây

487

97,0

15

3,0

0

0

9. Thi văn nghệ với chủ đề GDBVMT

187

37,2

228

454,

87

17,3

10. Tổ chức cho HS thu gom rác thải

502

100

0

0

0

0

11. Tổ chức, hướng dẫn HS phân loại rác thải

502

100

0

0

0

0

12. Tổ chức các trò chơi mang tính GDBVMT

246

49,0

204

40,6

52

10,3

13. Sử dụng máy tính là công cụ hỗ trợ GDBVMT

376

74,9

97

19,3

29

5,8

14. Sử dụng các phần mềm GDBVMT

47

9,4

368

73,3

87

17,3

Các biện pháp khác (nếu có):

Không có ý kiến

Bảng 4 cho thấy, khả năng sử dụng các hình thức và biện pháp GDBVMT cho HSTH của SV ngàng GDTH là chưa cao. Hầu hết, SV gặp khó khăn trong quá trình sử dụng các hình thức và biện pháp GDBVMT cho HSTD. Đa số SV chỉ sử dụng tốt những hình thức đơn giản, thông thường, quen thuộc như: tổ chức cho HS lao động, vệ sinh MT, tổ chức cho HS thu gom rác thải, hướng dẫn HS phân loại rác thải (100% số SV được hỏi trả lời sử dụng tốt). Vẫn còn một tỉ lệ không nhỏ SV chưa sử dụng được các hình thức và biện pháp GDBVMT nêu trên. Không có SV nào đưa ra biện pháp khác.

2.2.2. Về các nguồn thông tin mà SV ngành GDTH đã tiếp cận từ phía nhà trường để chuẩn bị cho nhiệm vụ GDBVMT ở trường TH:Để khảo sát vấn đề này chúng tôi đưa ra câu hỏi: "Bạn đã được tiếp cận như thế nào từ các nguồn dưới đây để chuẩn bị tham gia GDBVMT ở trường tiểu học sau này?". Với 8 nguồn thông tin đưa ra, SV lựa chọn các hình thức: thường xuyên, ít khi và chưa (xem bảng 5).

Bảng 5: Mức độ tiếp cận các nguồn thông tin từ phía nhà trường để chuẩn bị tham gia GDBVMT của SV ngành GDTH

Nguồn thông tin

Thường xuyên

Ít khi

chưa

SL

%

SL

%

SL

%

Câu lạc bộ BVMT

0

0

32

6.4

470

93,6

Ngoại khóa về GDBVMT

0

0

57

11,3

455

90,6

Tìm hiểu về thực tế MT địa phương

24

4.8

31

6,2

447

89,0

Tìm hiểu thực tế GDBVMT ở trường tiểu học

29

5.8

87

17,3

386

76,9

Nói chuyện chuyên đề về GDBVMT

16

3.2

48

9,6

438

87,2

Học môn học GDBVMT

0

0

325

64,7

177

35,3

Lồng ghép nội dung GDBVMT vào các môn học

24

4.8

63

12,5

415

82,7

Lồng ghép nội dung GDBVMT vào chương trình rèn luyện NVSP

0

0

63

12,5

439

87,4

Kết quả khảo sát cho thấy, nhìn chung SV tiếp cận với các nguồn thông tin từ phía nhà trường chưa nhiều, nếu không muốn nói là ít.

Qua trao đổi với giảng viên, SV ngành GDTH và tìm hiểu chương trình đào tạo trình độ đại học ngành sư phạm GDTH của một số trường ĐH chúng tôi thấy: Trong chương trình đào tạo ngành sư phạm GDTH hiện nay, nội dung chính thức về GDBVMT chỉ được đưa vào một phần trong học phần Giáo dục dân số và môi trường hoặc Môi trường và con người. Một số phần khác có khả năng tích hợp GDBVMT nhưng trên thực tế việc tích hợp này chưa nhiều. Mặt khác, điều kiện thức hiện mục tiêu GDBVMT đang gặp nhiều khó khăn.

Chúng tôi đưa ra câu hỏi: "Bạn đã được tham gia lớp tập huấn, bồi dưỡng về GDBVMT chưa?". Có 83,8% số SV được hỏi trả lời chưa; 16,2% còn lại trả lời ít khi. Trong số 16,2% số SV đã được một vài lần tham gia các lớp tập huấn về GDBVMT thì tất cả đều được tham gia qua các dự án, chương trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế hay các đề tài KH trong nước; không có ai được tham gia lớp tập huấn này do nhà trường hay khoa chủ động tổ chức với tư cách là hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên biệt.

2.2.3 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong GDBVMT của SV ngành GDTH: Chúng tôi đưa ra câu hỏi "Khả năng sử dụng máy tính là công cụ hỗ trợ GDBVMT của bạn?" , có 90,6% số SV được hỏi trả lời sử dụng tốt, chỉ 25,1% trả lời khó sử dụng hoặc không sử dụng được. Tuy nhiên, với câu hỏi tiếp theo "khả năng sử dụng các phần mèm GDBVMT của bạn?", có 90,6% số SV được hỏi trả lời khó sử dụng hoặc không sử dụng được, chỉ 9,4% số SV trả lời sử dụng tốt. Hiện nay, Viện ITIMS, thuộc Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, đã xây dựng bộ phần mềm GDBVMT dành cho HSTH gồm 5 phần mềm: phần mềm "nước sạch", phần mềm "cây xanh", phần mềm "rác thải", phần mềm "tiếng ồn", phần mềm " ô nhiễm không khí". Các phần mềm này được đưa lên mạng, rất phổ biến, dễ truy cập, với giá thành rất rẻ (15.000 ĐVN/1 phần mềm), mua rất thuận tiện (qua tin nhắn điện thoại). Chúng tôi đã mua và sử dụng các phần mềm này, hiệu quả GD cao, thấy dễ sử dụng và rất tốt, HSTH rất thích tiếp cận. Nhưng khi khảo sát trên SV ngành GDTH, có hơn 99% số SV khi được hỏi trả lời chưa bao giờ sử dụng hay biết đến các phần mềm GDBVMT. Có thể cho rằng, khả năng ứng dụng GDBVMT hiện nay đang ở mức độ thấp. Chúng ta cần có giải pháp nâng cao khả năng ứng dụng CNTT trong GDBVMT cho SV ngành GDTH, bởi vì CNTT có tiềm năng rất lớn trong GDBVMT nói riêng, trong giáo dục hiện đại nói chung.

3. Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết SV ngành GDTH đã xác định GDBVMT có vị trí rất quan trọng ở lứa tuổi HS tiểu học; song các vấn đề: mục đích, tiêu chí nội dung, khả năng tác động, hình thức và biện pháp,, nguồn thông tin, vận dụng CNTT,…trong GDBVMT của SV cần được các cơ sở đào tạo chú ý hơn, nhằm thực hiện tốt mục tiêu GDBVMT trong thời kỳ mới.

Tài liệu tham khảo

1. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam . Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam(Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam ), 2004.

2. Nguyễn Đình Chỉnh. Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông. NXB Giáo dục, H.1980.

3 . Nguyễn Dục Quang. Hướng dẫn thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông. NXB Đại học quốc gia, H.2010.

4 . Chương trình đào tạo trình độ đại học, ngành Sư phạm giáo dục tiểu học . Trường Đại học Vinh, 2009.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.