Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 25/09/2013 23:22 (GMT+7)

Thực trạng chênh lệch giầu nghèo ở Việt Nam

Ngoài hình thức phân phối thu nhập theo hiệu quả lao động, theo các nguồn lực đóng góp thì ở nước ta còn nhiều hình thức phân phối khác thông qua quỹ phúc lợi như: thực hiện chính sách người có công với nước, với dân; chính sách bảo trợ những người già cô đơn không nơi nương tựa; chính sách đối với trẻ em lang thang có hoàn cảnh đạc biệt khó khăn; chính sách hỗ trợ các hộ gia đình thuộc diện đói nghèo; chính sách bảo trợ phát triển xã hội ở vùng sâu, vùng xã…

Mỗi năm Chính phủ đã dành từ 24,4 % đến 28,4 % ngân sách nhà nước đầu tư cho các lĩnh vực xã hội. Hiện nay cả nước không còn hộ đói kinh niên, số hộ nghèo giảm nhanh chóng, số hộ giàu ngày một tăng. Tính đến nay cả nước có 85 % hộ gia đình chính sách, người có công với đất nước có mức sống bằng hoặc khá hơn mức sống của cộng động nơi cư trú. Nhờ có hệ thống các chính sách an sinh xã hội đã góp phần làm cho đời sống của các hộ nghèo được cải thiện hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nước ta vẫn đang đứng trước một loạt các vấn đề cần giải quyết. Đó là khoảng cách giàu nghèo ngày càng doãng rộng; chênh lệch thu nhập giữ nhóm giàu và nhóm nghèo có xu hướng ngày càng gia tăng, điều này được thể hiện trong bảng sau:

Bảng1:Thu nhập BQĐN 1 tháng chia theo 5 nhóm thu nhập ở Việt Nam thời kỳ 2002 – 2010

Năm

Thu nhập BQĐN 1 tháng (1000đ)

So sánh 2010/ 2002 (lần)

Nhóm TN

2002

2004

2006

2008

2010

Nhóm nghèo nhất

107,7

141,8

184,3

275,0

369,3

3,42

Nhóm cận nghèo

178,3

240,7

318,9

477,2

668,5

3,75

Nhóm trung bình

251,0

347,0

458,9

699,9

1000,2

3,98

Nhóm khá

370,5

514,2

678,6

1067,4

1490,4

4,02

Nhóm giầu nhất

872,9

1182,3

1541,7

2458,2

3411,0

3,91

Hệ số chênh lêch giàu – nghèo (lần)

8,1

8,3

8,4

8,9

9,2

Hệ số giãn cách thu nhập (%)

16,06

15,77

15,81

15,11

14,96

Nguồn: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình thời kỳ 2002-2010 (TCTK)

Qua kết quả tính toán ở bảng 1 cho thấy thu nhập BQĐN một tháng của tất cả các nhóm dân cư đều tăng lên trong giai đoạn 2002-2010. Nhưng tốc độ tăng của các nhóm diễn ra rất khác nhau. Cụ thể, hai nhóm dân cư nghèo, thu nhập đã thấp, song tốc độ tăng thu nhập lại chậm hơn các nhóm khác (nhóm nghèo nhất thu nhập BQĐN một tháng năm 2010 so với năm 2002 chi cao gấp 3,42 lần). Ngược lại đối với các nhóm có thu nhập khá và giàu thì tốc độ tăng thu nhập lại nhanh hơn (năm 2010 so với năm 2002 nhóm khá cao gấp 4,02 lần và nhóm giàu cao gấp 3,91 lần). chính sự phát triển không đồng đều về thu nhập giữa nhóm giàu và nhóm nghèo đã tác động làm cho khoảng cách giữa giàu với nghèo ngày một tăng. Điều này được thể hiện qua sự gia tăng của hệ số chênh lệch giàu – nghèo từ 8,1% ( năm 2002) lên 9,2 %(năm 2010).

Mặt khác, nếu đánh giá sự phân hóa giàu nghèo thông qua hệ số giãn cách thu nhập theo tiêu chuẩn”40” của Ngân hàng thế giới thì nếu hệ số này lớn hơn 17% thì phân phối thu nhập giữa các nhóm dân dư tương đối bình đẳng, còn nhỏ hơn 12 % là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập, nếu nằm trong khoảng 12-17% thì bất bình đẳng về thu nhập ở mức độ vừa phải hay sự phân hóa giàu nghèo ở mức độ tương đối. Căn cứ vào kết quả tính toán của bảng 1 cho thấy hệ số giãn cách thu nhập của nước ta nằm trong khoảng từ 14% đên 16%, điều này cho thấy sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta ở mức độ vừa phải nhưng có xu hướng ngày càng gia tăng (năm 2002 hệ số này là 16,6% thì đến năm 2010 giảm xuống còn 14,96%).

Tuy nhiên, sự chênh lệch về giàu nghèo tính theo thu nhập mới chỉ phản ảnh được sức mua của các nhóm dân cư. Để phản ánh được tình trạng chênh lệch giàu nghèo về mức sống của các nhóm dân cư một cách cụ thể hơn thì cần phải tính theo chi tiêu cho đời sống.

Bảng 2: Chi tiêu cho đời sống BQĐN 1 tháng chia theo 5 nhóm thu nhập ở Việt Nam thời kỳ 2002-2010

Năm

Chỉ tiêu ĐS BQĐN 1 tháng (1000đ)

So sánh 2010/ 2002 (lần)

Nhóm TN

2002

2004

2006

2008

2010

Nhóm nghèo nhất

123,3

160,4

202,2

329,7

494,4

4,01

Nhóm cận nghèo

169,7

226,0

286,0

460,1

717,1

4,23

Nhóm trung bình

213,7

293,8

376,9

568,1

912,2

4,27

Nhóm khá

290,3

403,9

521,9

776,3

1260,5

4,34

Nhóm giầu nhất

548,5

715,2,

916,8

1390,8

2309,5

4,21

chênh lêch giàu – nghèo (lần)

4,45

4,46

4,53

4,22

4,67

Nguồn: kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình 2002- 2010 (TCTK)

Nếu như thu nhập BQĐN một tháng của nhóm giàu gấp 8 đến 9 lần so với nhóm nghèo ở thời kỳ 2002 – 2010 thì chi tiêu cho đời sống BQĐN 1 tháng của nhóm giàu chỉ gấp 4,45 đến 4,67 lần nhóm nghèo. Điều này cho thấy sự chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm giàu nghèo rất lớn, nhưng sự chênh lệch về mức sống, về đời sống cũng chưa hẳn như vậy.

Bảng 2 cũng đã chỉ rõ chi tiêu cho đời sống BQĐN 1 tháng đã tăng lên ở các nhóm và tăng lên tương đối đồng đều hơn so với sự gia tăng của thu nhập. Tuy nhiên, sự tăng trưởng về chỉ tiêu cho đời sống của nhóm nghèo vẫn chậm hơn so với 4 nhóm còn lại. Chính điều này đã góp phần làm cho khoảng cách giàu nghèo có xu hướng ngày một nới rộng.

Tóm lại, xét theo thu nhập hay chi tiêu thì sự chênh lệch giàu nghèo ở Việt nam mặc dù là chưa lớn, nhưng có chiều hướng ngày càng gia tăng và sự phân hóa giàu nghèo sẽ ngày một sâu sắc hơn. Do đó thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện bình đẳng xã hội là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Nhu vậy, thực hiện tốt các mục tiêu xóa đói giảm nghèo sẽ là động lực cơ bản để giúp người nghèo bớt nghèo và được tiếp cận với các dịch vụ xã hội một cách công bằng hơn./.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.