Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 31/07/2006 15:32 (GMT+7)

Thành ngữ tiếng Việt có từ chỉ "tay", "chân" với đặc trưng văn hoá dân tộc

1. Đặt vấn đề

Thành ngữ tiếng Việt được coi là tấm gương phản chiếu đặc điểm văn hoá của dân tộc Việt Namvà là di sản văn hoá tinh thần của đất nước và con người Việt Nam . Bằng lao động chân tay và lao động trí óc của mình, con người làm nên tất cả để nuôi sống mình và nuôi sống toàn xã hội. Thành ngữ có từ chỉ “tay” và “chân” người có số lượng khá lớn trong kho tàng thành ngữ Việt Nam . Trong “Từ điển thành ngữ Việt Nam” (Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành, 1993) có 139 thành ngữ có từ “tay” và 100 thành ngữ có từ “chân”. Những thành ngữ này góp phần làm giàu, làm đẹp cho ngôn ngữ Việt nói chung và kho tàng thành ngữ tiếng Việt nói riêng. Hiện thực được phản ánh trong thành ngữ rất phong phú và đa dạng. Chẳng hạn, khi nói về những người khéo léo, biết làm tất cả mọi việc, người ta dùng thành ngữ khéo chân khéo tay. Khi nói tới những người không có của cải, không có cơ sở vật chất gì mà làm nên giàu có, ăn nên làm ra, tạo lập được cơ nghiệp lớn, người ta dùng thành ngữ tay trắng làm nên. Khi nói về những người tài giỏi, với tiềm lực vật chất ít ỏi mà tạo dựng được cơ nghiệp lớn, người ta có thể dùng thành ngữ tay không mà nổi cơ đồ. Khi nói về những người trót mắc sai lầm, trót phạm tội, có ân hận sám hối thì cũng đã quá muộn, người ta dùng thành ngữ tay đã nhúng tràm. Về những người lén lút làm điều ác, không dám công khai lộ mặt, thường mượn tay người khác thực hiện mưu đồ xấu xa của mình, bề ngoài tỏ ra vô can, người ta dùng thành ngữ ném đá dấu tay... Dưới đây chúng tôi xem xét các thành ngữ có từ chỉ tứ chi người với những ý nghĩa khác nhau thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc và cốt cách của con người Việt Nam .

2. Đặc trưng văn hoá dân tộc và tính cách con người Việt Nam phản ánh trong các thành ngữ có từ chỉ “tay” và “chân”

Thành ngữ tiếng Việt nói chung và thành ngữ có từ tay, chân nói riêng mang trong mình những đặc trưng văn hoá dân tộc phản ánh các khía cạnh của cuộc sống, phản ánh tính cách con người Việt Nam, đặc biệt là phản ánh cuộc sống lao động nông nghiệp rất sâu sắc.

2.1. Phản ánh lao động nông nghiệp

Nền văn hoá Việt Nam thuộc loại hình văn hoá gốc nông nghiệp. Trong tiếng Việt ta gặp nhiều thành ngữ chỉ “tay” và “chân” người nói về lao động nông nghiệp: chân lấm tay bùn(các thành ngữ đồng nghĩa: chân bùn tay đất, chân bùn tay lấm, tay bùn chân lấm), tay bắp cày chân bàn cuốc, đầu đội trời chân đạp đất, vai gánh tay cuốc...Đây là thực tế khách quan tất yếu được phản ánh trong ngôn ngữ.

Qua các thành ngữ nói trên, có thể phần nào thấy được cuộc sống nhà nông. Những ngày thời vụ, người nông dân phải làm việc vất vả, phải một nắng hai sương, phải cuốc bẫm cày sâu, chân đạp đất đầu đội trời để cày ruộng, cấy lúa:

“Trước phải khó nhọc cày bừa, chân bùn tay lấm, làm cho lúa tốt mới có gạo ăn” (Hồ Chí Minh, “Con người xã hội chủ nghĩa”, tr. 115).

“(Bà lái Táp” Ước gì cứ kéo dài mãi cái cảnh nửa nọ nửa kia, tranh tối tranh sáng ấy mãi. Hai con đường XHCN và TBCN cứ song song, không cái nào át được cái nào. Bà sẽ lừa đục nước thả câu, kiếm những món lợi kếch xù, buôn thất nghiệp mà lãi quan viên. Chẳng chân lấm tay bùn, chẳng lo nắng lâu mưa bão, có tiền nhiều tha hồ đua đòi hội hè” (Chu Văn, “Bão biển”, tr. 177).

Nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước trước đây phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên, phụ thuộc vào cả trời, cả vào đất, cả vào nắng, cả vào mưa... Người Việt Nam bỏ nhiều công sức để làm đất trồng lúa, trông mong mưa thuận gió hoà để có vụ mùa bội thu, để bỏ công vất vả tháng ngày:

Người ta đi cấy lấy công

Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề

Trông trời, trông đất trông mây

Trông mưa, trông gió trông ngày trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm

Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng(Ca dao Việt Nam )

Nhưng vào những ngày nông nhàn, người nông dân lại thảnh thơi bù vào những ngày vất vả đầu tắt mặt tối ngoài đồng: vắt chân chữ ngũ, vắt chân chữ ngũ đánh củ khoai lang. Với họ, một chút thời gian rảnh rỗi, được ăn những thứ tự tay mình làm ra, cho dù chỉ là củ khoai củ sắn, thì đấy cũng là niềm vui, niềm hạnh phúc.

“Cứ sáng sớm bác vắt chân chữ ngũ, đánh củ khoai lang, uống bát nước chè chát xong, vác cày ra đồng, mà lòng cứ khoan khoái, không gợn một chút lo âu, sống thế cũng bằng tiên rồi” (19, 649)...

2.2. Thái độ đối với lao động

Bản chất của người Việt Nam là cần cù lao động. Cuộc sống lao động vất vả và nhọc nhằn đó đã được phản ánh trong các thành ngữ: tay đã thành chai, một chân một tay, tay làm hàm nhai...

“Ôi dào, rỗi thì mỗi người một chân một taycho chóng, chứ mất vàng mất bạc gì mà cô la (Nhiều tác giả, “Pháo đài Hà Nội”, 20, tr. 426).

“Thất là người lao động từ nhỏ. Suy nghĩ, họp hành, làm việc ở bàn giấy, anh thấy chóng mệt, nhưng làm lụng luôn chân luôn taythì lại dẻo dai ít ai bì” (Chu Văn “Bão biển”, tr 525).

“Trước mặt Bính, cái cảnh đời tay làm hàm nhaidù vất vả lam lũ, lại sáng lên rực rỡ một cách khác thường” “Nguyên Hồng, “Bỉ vỏ”, 19, tr. 561).

Người Việt Nam luôn có tinh thần đùm bọc lẫn nhau, tinh thần tương thân tương ái, nhưng họ luôn tự ý thức là họ phải tự lao động nuôi sống mình, không nhờ cậy vào người khác: “Thân phận chị, tay có làm hàm mới nhai, tay ngơi bụng nhịn. Kiêng việc một ngày nữa là đủ chết lả mất thôi” (“Bão biển” Chu Văn, tr 345).

2.3. Trọng tình cảm, lấy tình cảm làm đầu trong quan hệ giao tiếp

Đây là nét tính cách điển hình của người Việt Nam gắn liền với nền văn hoá lúa nước. Nét tính cách này được người Việt Nam xem như một phương châm đối nhân xử thế và đã đi vào các thành ngữ tiếng Việt có từ chỉ “tay”, “chân”: đầu gối tay ấp, tay bắt mặt mừng, tay đứt ruột (dạ) xót, như chân với tay, một chân một tay…

Khi lâu ngày xa nhau, nay được gặp mặt, người Việt Nam biểu lộ tình cảm hân hoan, vui mừng của mình qua nét mặt, qua cử chỉ thân thiện: “Hơn ba năm ra trường, hôm nay chúng tôi mới lại gặp nhau, nên tay bắt mặt mừng”.

Trong cuộc sống đời thường, con người Việt Nam thường đồng cam cộng khổ, biết thương xót nhau trong hoạn nạn, đau thương. “Lần này cả khám đều hay. Tay đứt dạ xót, suốt đêm có mấy ai nằm nhắm mắt được” (“Ngẩng lên”, Phạm Hữu Tùng, 14, tr. 561). “Ông Hai Khoản do dự. Xa xôi mười mấy cây số mới tới huyện. Khiêng được đến nơi, người có còn hay không? Bà lắc đầu quầy quậy: - Thôi thôi! Cứ chết ngay tôi cũng không chữa thuốc y viên đâu. Người ta không tay đứt ruột xót, máu chảy ruồi bâu gì. Ai người ta chăm sóc con tôi. Mà thuốc của họ…” (Chu Văn, “Bão biển”, 376).

2.4. Phương thức lao động hoặc vận chuyển bằng sức người

Người dân Việt Nam trước đây chủ yếu sống bằng nghề nông. Trình độ phát triển kinh tế thấp kém, khoa học kỹ thuật chưa phát triển. Con người sống nhờ vào sản phẩm nông nghiệp, họ luôn phải dựa vào điều kiện thiên nhiên, mong sao mưa thuận gió hoà để canh tác trồng trọt được thuận lợi. Ngày nay khoa hoc kỹ thuật phát triển, con người bớt vất vả hơn, không còn cảnh kéo cày thay trâu, tuy nhiên hình tượng con trâu đi trước, cái cày theo sau vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, và điều đó đã được ghi nhận trong thành ngữ: tay cày tay cuốc, tay xách nách mang, tay chèo tay lái, tay bế tay bồng, vai gánh vai cuốc…“Chị Thành tay xách nách mangquà và túi quần áo từ ngoài vội vào” (Nhiều tác giả, “Pháo đài Hà Nội”, 14, tr. 562).

2.5. Hình thức bên ngoài

Cuộc sống của người dân lao động vật vả, chân lấm tay bùn, một nắng hai sương, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, vì vậy họ ít có cơ hội làm duyên, làm đẹp cho bản thân mình. Bên cạnh những người đẹp cũng gặp người có những bộ phận cơ thể mang dáng hình của cây cỏ, của công cụ sản xuất qua những ví dụ sau: tay dùi đục chân bàn chổi, tay que rẽ chân vòng kiềng, tay sống sậy chân ống đồng, tay bắp cày chân bàn cuốc…“Nó đứng yên một chỗ thì thật đẹp, nhưng nhìn nó đi, tay que rẽ chân vòng kiềng, rõ chán” (14, tr. 561). Không có sự hiểu biết về con người Việt Namvà nền văn hoá Việt Nam , thì khó có thể hiểu rõ được ý nghĩa của các thành ngữ trên.

2.6. Tính cách con người

Người Việt Nam sống trọng tình trọng nghĩa, luôn có tinh thần tập thể, tinh thần cộng đồng, luôn gần gũi tương trợ cho nhau trong cuộc sống: “Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lí coi trọng cộng đồng, tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể đứng sau” (12, tr. 24). “Khi hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi đấu tranh ở nước nhà, hơn 25 năm đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ, như tay với chân” (Hồ Chí Minh, “Những lời kêu gọi”, 19, tr. 491). Những phẩm chất tốt đẹp như thế của người Việt Nam được thể hiện trong các thành ngữ: quen tay quen việc, đánh chuông ra mặt đánh giặc ra tay, khéo tay may miệng, đầu gối tay ấp, chung tay góp sức, một chân một tay, theo chân nối gót…

Bên cạnh việc biểu dương những phẩm chất tốt đẹp kể trên, thành ngữ tiếng Việt cũng biểu lộ sự phê phán một số tính cách xấu: có người làm điều ác một cách lén lút, không dám công khai lộ mặt, thường mượn tay người khác thực hiện mưu đồ xấu xa của mình, về ngoài lại tỏ ra vô can với việc làm xấu xa và hậu quả của nó: “Thú thì có thể bị tội, bị bọn kia thù oán. Nhưng thà thế, đường đường chính chính, không bị sợ ném đá dấu taytrong xó tối. Dứt khoát đi một lần, đỡ khổ về sau” (Bão biển, Chu Văn, 480).

Có người một lúc hướng vào hai đối tượng, có hai cách biểu lộ thái độ tình cảm nhằm được nhiều lợi lộc. Tính cách này thể hiện trong thành ngữ : bắt cá hai tay. Hễ một người nào đó vì lòng ham muốn có được nhiều thứ trong cùng một lúc, hoặc để ăn chắc, không được thứ này thì được thứ khác, mà vừa làm điều này ở đây rồi, lại làm điều đó ở nơi khác nữa, trong khi theo lẽ thường anh ta chỉ được làm ở một nơi, thì sẽ bị mọi người gọi một cách mỉa mai là kẻ “ bắt cá hai tay”… Nhân dân ta đều hiểu thành ngữ này với nghĩa đen là: mỗi tay bắt một con cá, và kết quả là tuột mất, chẳng bắt được con nào. Ta gặp cách nói này:

Xin đừng bắt cá hai tay

Cá lội dưới nước, chim bay trên trời” (7, tr. 39).

Ngoài những thành ngữ trên có thể kể đến một số thành ngữ về tính cách con người khác nữa: tay bẩn nuôi miệng bẩn, trở mặt như (trở) bàn tay, khoa chân múa tay, dẫm chân lên nhau, gắp lửa bỏ tay người…

2.7. Tư thế con người khi qua đời

Thành ngữ có từ “chân” và “tay” cũng được dùng để nói về cái chết. Khi con người gần kề với cái chết hay đã qua đời, họ ở những tư thế khác nhau: chết hai tay chắp đít- chết khổ sở, nhục nhã; hai tay buông xuôi- ở tư thế buông xuôi tay trước khi tắt thở; nhắm mắt xuôi tay - chết, yên nghỉ vĩnh hằng; chết chỏng cẳng- chết hẳn; chết thẳng cẳng- chết tươi; không còn cựa quậy gì nữa… Tuỳ theo tình huống, mối quan hệ, hay thái độ của người nói với người đã qua đời, người ta có dùng thành ngữ cho phù hợp. Chẳng hạn, thành ngữ sau đây được dùng như một lời nguyền rủa: “Loại người độc ác như mày thì cũng có ngày chết hai tay chắp đítthôi” (14, tr. 129).

2.8. Nghệ thuận ngôn từ tiếng Việt

Ngoài những đặc trưng văn hoá nói trên được thể hiện trong các thành ngữ có từ chỉ “chân”, “tay”, nghệ thuật sử dụng ngôn từ cũng có thể được xem là nét văn hoá của người Việt. “Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có tình biểu trưng cao. Tính biểu trưng thể hiện ở xu hướng khái quát hoá, ước lệ hoá với những cấu trúc cân đối hài hoà” (12, tr. 160). Xu hướng ước lệ bộc lộ cả trong thành ngữ tiếng Việt có các từ chỉ những con số biểu trưng: ba đầu sáu tay, ba đầu sáu tay mười hai con mắt, mặt choắt bằng hai ngón tay chéo, một chân một tay, một tay một chân, một chân bước ra ba chân bước vào, ba chân bốn cẳng, chân tám cẳng, tay năm tay mười, vắt chân chữ ngũ…

Người Việt Nam có lối sống ưa ổn định và có quan hệ tốt với mọi người dẫn đến có những biểu hiện xu hướng trọng sự cân đối hài hoà trong ngôn từ. Tính cân xứng là đặc tính điển hình của tiếng Việt nói chung, và của thành ngữ nói riêng. Trong số 239 thành ngữ có từ chỉ “tay” và “chân” được nghiên cứu, có 130 thành ngữ có cấu trúc đối ngẫu cặp đôi ở cả thành ngữ bốn, sáu và tám yếu tố. Các thành ngữ bốn yếu tố đối ngẫu cặp đôi: bó chân bó tay, chặt tay day trán, chân yếu tay mềm, miệng nói tay làm, tay làm hàm nhai, khéo tay may miệng, tay rảnh chân rỗi, tay xách nách mang, tay kiếm tay cờ…Các thành ngữ sáu yếu tố đối ngẫu cặp đôi: bắt tận tay day tận cánh, coi bằng mắt bắt bằng tay, con đầu gối con cánh tay, day tay mặt đặt tay trái, tay dùi đục chân bàn chổi, thượng cẳng tay hạ cẳng chân…Các thành ngữ tám yếu tố đối ngẫu cặp đôi: đánh chuông ra mặt đánh giặc ra tay, khéo hai con mắt vụng hai bàn tay, chân không bám đất cật không đến trời, lội bùn lấm chân vọc sơn phù mặt, một chân bước ra ba chân bước vào…

3. Kết luận

Thành ngữ tiếng Việt nói chung và thành ngữ có từ chỉ “tay” và “chân” người nói riêng được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, là giá trị tinh thần của văn hoá, phản ánh những đặc trưng của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp. Qua thành ngữ chúng ta hiểu biết hơn về cái hay cái đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt, hiểu biết hơn về con người Việt Namvà nền văn hoá Việt Nam . Do đó khai thác một cách toàn diện thành ngữ tiếng Việt nói chung và thành ngữ có từ chỉ “tay”, “chân” người nói riêng, hiểu, sử dụng và phổ biến chúng là góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

___________

Tài liệu tham khảo

1. Lương Văn Đang, Nguyễn Lực - Thành ngữ tiếng Việt, NXB KHXH, Hà Nội, 1978.

2. Nguyễn Thiện Giáp - Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt, Ngôn ngữ, Số 3, tr. 42-52, Hà Nội, 1979.

3. Hoàng Văn Hành - Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt(tr. 11-19), Ngôn ngữ, 1/1976.

4. Hoàng Văn Hành - Từ ngữ tiếng Việt trên đường hiểu biết và khám phá, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.

5. Hoàng Văn Hành - Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, Tái bản lần 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999.

6. Nguyễn Văn Hằng - Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại, NXB KHXH, Hà Nội, 1999.

7. Đỗ Huy - Văn hoá mới Việt Nam - Sự thống nhất và đa dạng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.

8. Nguyễn Thị Hoài Nhân, Nguyễn Thị Thu, Trần Kim Bảo, Nguyễn Xuân Hoà - Thành ngữ Nga có từ “ðóêà” so sánh - đối chiếu với các thành ngữ có chứa từ “hand” trong tiếng Anh và từ “tay” trong tiếng Việt. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.

9. Trịnh Thị Kim Ngọc - Ngôn ngữ và văn hoá tri thức nền và việc giảng dạy tiếng nước ngoài, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999.

10. Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hoá Việt Nam , NXB Giáo dục, Hà Nội – 1999.

11. Nguyễn Đức Tồn - Đặc trưng văn hoá dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ngôn ngữ ở người Việt(trong sự so sánh với những dân tộc khác). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.

12. Trần Quốc Vượng - Văn hoá Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn hoá dân tộc tạp chí văn nghệ thuật. Hà Nội, 2000.

13. Thành tố văn hoá trọng dạy - học ngoại ngữ, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Trường Đại học ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2000.

14. Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành - Từ điển thành ngữ Việt Nam, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1993.

15. Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Năng, Hà Nội – Đà Nẵng, 2002.

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 3 (125), 2006, tr 22 - 26

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.