Tăng creatinin - huyết
Creatinin bắt nguồn từ creatin - cơ bị mất nước không do enzym. Tỷ lệ biến đổi creatin thành creatinin bị tác động pH tế bào và nhiệt độ. Creatin do gan tổng hợp, giải phóng vào tuần hoàn chung và kế tiếp được các cơ và các mô cần dùng năng lượng thu hồi, hoặc bài xuất theo nước tiểu. Các cơ vân chứa gần 98% toàn bộ creatin, trong đó 60 - 70% dưới dạng phospho - creatin. Phospho - creatin là hình thể dự trữ năng lượng của cơ vân và các mô. Enzym creatin - kinaz giải phóng các dẫn xuất phosphoryle năng lượng cao (ATP/ADP) như thế góp phần vào nhu cầu năng lượng và ti lạp thể của tế bào và riêng biệt của cơ.
Sản xuấtnội sinh creatinin của một người suốt một thời gian dài, tương đối không đổi. Lượng creatinin hằng ngày tuỳ thuộc nhiều yếu tố: tuổi đời, giới tính, khối lượng cơ, tình huống chuyển hoá (đồng hoá/ dị hoá) và thức ăn cung cấp. Đại cương, người ta chấp nhận sản xuất nội sinh creatinin trung bình là 25 mg/kg/ngày ở một người trưởng thành, đi từ cực tối thấp - tối cao là 15 đến 35 mg/kg/ngày. Như thế, ở một người khoẻ mạnh 40 tuổi, cân nặng 70kg, lượng creatinin sản xuất là gần 1.700 mg/ngày (phỏng chừng 15,5 mmol/ngày). Căn cứ vào bảng cân đối trọng lượng áp dụng cho tất cả mọi người và đảm bảo hằng số lượng creatinin - huyết không thay đổi, ta có thể khẳng định, trong giai đoạn cân bằng chuyển hoá, lượng creatinin sản xuất theo đơn vị thời gian bằng lượng bài xuất theo nước tiểu. Tuy nhiên cũng cần lưu ý một lượng nhỏ creatinin do thức ăn đem vào (thịt) có thêm vào lượng nội sinh và được bài xuất trong nước tiểu.
Thải trừcreatinin độc nhất là từ thận. Creatinin có những đặc điểm sinh học của một chỉ diện tốt lọc cầu thận: không gắn liền với protein, lọc tự do qua cầu thận, không bị thận chuyển hoá và được bài xuất dưới hình thức tương đối trơ. Trong suốt quá trình chuyển vận trong ống thận, creatinin chịu các hiện tượng cô nước tiểu, ống thận có tiết một lượng nhỏ creatinin (10 – 15%) của khối lượng lọc bình thường cầu thận. Sự việc này còn đúng trong suy thận mãn mà phần creatinin bài xuất cao có thể gây đánh giá không đúng khả năng lọc của cầu thận.
Ý nghĩa creatinin - huyết
Creatinin - huyết là nồng độ creatinin trong máu. Giá trị nó vẫn tương đối không đổi theo thời gian ở từng người, bình thường ở người khoẻ mạnh khoảng giữa 80 và 130 µmol/l.
Creatinin - huyết của một người là kết quả một cân bằng động giữa sản xuất và thải trừ. Trong thực tiễn nó bằng tỉ số tỉ lệ sản xuất và tỉ lệ thải trừ. Tử số và phân số của phương trình phải đủ để đoán nhận đúng tăng creatinin - huyết. Tỉ lệ sản xuất (tử số) tuỳ thuộc chủ yếu khối lượng cơ. Tỉ lệ thải trừ (phân số) tuỳ thuộc chủ yếu chức năng thận và lưu lượng lọc cầu thận.
Creatinin - huyết là chỉ diện tiện lợi để đánh giá chức năng thận, tuy nhiên vẫn có ranh giới và trong vài trường hợp, tỏ ra đánh lừa.
Hệ số thanh thải (3) creatinin nội sinh
Đó là lý do mà các nhà chuyên môn khuyên dùng lưu lượng lọc cầu thận là chỉ diện chức năng thận. Y văn kể thí dụsai kinh điểnlà ở người già mà thường là creatinin - huyết thấp do 2 lý do: giảm lưu lượng lọc cầu thận do mất cầu thận vì tuổi đời và giảm khối lượng cơ.
Trong thực tiễn lâm sàng, lưu lượng lọc cầu thận được tính theo công thức Cockroft và Gault, kinh điển và quy chiếu:
Nam giới: ((140 - tuổi) x trọng lượng x 1,24)/ creatinin - huyết µmol/L
Nữ giới: ((140 - tuổi) x trọng lượng x 1,04)/ creatinin - huyết µmol/L
Cũng có trường phái áp dụng vài công thức khác, đặc biệt công thức có tên MDRD (Modification of Diet in Renal Disease) được coi là tiến bộ hơn.
Cũng có vài chỉ diện sinh học khác để nghiên cứu lọc cầu thận: B2M (beta 2 microglobuline); Cystatine C là mới nhất.
Trong thực tiễn lâm sàng lưu lượng lọc cầu thận là cần thiết để xác định mức độ suy kém chức năng của thận cho dù trong cấp tính hay mãn tính.
Trước tình huống tăng creatinin - huyết, nhà lâm sàng bắt buộc nêu ra một số câu hỏi. Kết quả có phải thật bất thường? (giá trị chuyên môn của xét nghiệm?). Tăng creatinin - huyết có ý nghĩa gì trong lâm sàng? Mới phát hiện lần đầu? Hay mới gần đây tăng nhanh chóng? Suy thận cấp; hay người bệnh bị suy thận mãn chưa được chẩn đoán hoặc đang được theo dõi?
Chú thích
1. Dalton: đơn vị trọng lượng phân tử bằng trọng lượng một nguyên tử hydro tức 1,66 x 10-34g.
2. Ti lạp thể: tất cả các cấu tạo rải rác trong chất nguyên sinh của các tế bào, loại có hình hạt quả trứng riêng lẻ có tên là ti lạp thể, đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt tính tế bào: phản ứng hoá học, giải phóng năng lượng, tổng hợp vài loại protein. Có chứa ADN, một phần nhỏ, trong phân.
3. Hệ số tham thải: Lượng ml huyết tương mà thận lọc sạch trong 1 phút.








