Tái sử dụng đất sau khai thác mỏ - vấn đề đang ngày càng được quan tâm nhiều hơn
Để việc khôi phục đất đạt hiệu quả tối đa, cần thiết phải có một kế hoạch chi tiết đối với từng mỏ, bao gồm cả các giai đoạn ngay từ khi bắt đầu các hoạt động khai thác đến khi ngừng khai thác mỏ. Thực hiện quy định của Luật Bảo vệ môi trường, hầu hết các đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐMT) cho các mỏ. Các giải pháp bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường trong và sau khi khai thác mỏ được xác định trong ĐTM của mỗi mỏ đều đã đề cập được các biện pháp khả thi, phù hợp và hiệu quả cho việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong không khí, tiếng ồn, xử lý nước thải, trôi lấp đất đá thải, trồng cây xanh phục hồi môi trường. Tuy nhiên vấn sử dụng đất đá thải mỏ, quy hoạch bãi thải, cơ sở hạ tầng, đường giao thông… như thế nào để có thể sử dụng hợp lý và hiệu quả nhất tài nguyên đất đai sau khi đã kết thúc khai thác mỏ thì cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa.
Một kế hoạch khôi phục đất đai tối ưu cần phải đưa ra được những giải pháp khả thi nhằm khôi phục các tài nguyên thiên nhiên ngay tại khu vực mỏ để chúng có thể được sử dụng hiệu quả và hợp lý. Các nguồn tài nguyên này bao gồm trầm tích, địa thế, đất mặt, vật liệu cải tạo đất và các loại thực vật địa phương. Bản kế hoạch phải được cân nhắc trên cơ sở bài toán Lợi ích – Chi phí dựa vào các yếu tố sau:
- Khả năng của đất và sự sử dụng;
- Giá trị về môi trường, sức chịu đựng và mức độ dễ huỷ hoại của đất;
- Những mục tiêu phát triển của đất và tài nguyên;
- Chính sách phân phối trong việc sử dụng đất;
- Những kỹ năng truyền thống, các lợi ích và nguyện vọng phát triển của dân chúng bản địa.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tái sử dụng đất sau khi khai thác mỏ, thời gian gần đây, Tập đoàn TKV đã tập trung rất nhiều nỗ lực vào việc khôi phục, cải tạo đất. Ngoài dự án Cải tạo bãi thải Nam Đèo Nai được thực hiện theo QĐ 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Tập đoàn đang tập trung thực hiện các dự án Cải tạo bãi thải Khe Rè (Công ty Cổ phần Than Cọc Sáu), Cải tạo bãi thải +150 và +220 Đông Cao Sơn (Công ty CP Than Cao Sơn), Cải tạo bãi thải Nam Lộ Phong - Hà Tu, Cải tạo môi trường và cảnh quan khu vực LV46 - Hồng Thái (Công ty Than Uông Bí) và đang cùng Hiệp hội Nghiên cứu Mỏ và môi trường CHLB Đức khảo sát lập dự án Cải tạo bãi thải V.11 mỏ Núi Béo (Công ty Than Núi Béo). Tuy các dự án này chưa thể hiện được thế chủ động trong bảo vệ môi trường song đã góp phần tích cực khắc phục những tồn tại về môi trường do quá khứ để lại.
Người có ý tưởng đầu tiên về việc kết hợp công tác khai thác mỏ với nhu cầu sử dụng đất phải kể đến ông Nguyễn Văn Duyệt - Giám đốc mỏ than Cao Sơn (hiện nay là Công ty Than Cao Sơn). Ngay từ những năm tám mươi của thế kỷ trước, ông Duyệt đã thực sự đồng cảm với nhu cầu về nhà ở của anh em công nhân mà có những quyết định táo bạo: Đưa đất dá thải từ mỏ Cao Sơn về san lấp khu lấn biển Cọc 3 - Cẩm Phả để tạo ra một khu vực mặt bằng rộng lớn tới vài chục héc ta, vừa làm văn phòng Công ty Than Cao Sơn bây giờ, vừa tạo được một khu công viên nổi tiếng của thị xã Cẩm Phả, đồng thời còn có đủ diện tích mặt bằng để làm khu tập thể công nhân và phân chia đất cho hàng chăm cán bộ công nhân viên Công ty xây dựng căn hộ. Nhớ đến công lao của ông, người ta gọi khu Cọc 3 - Cao Sơn bằng cái tên trìu mến “Làng ông Duyệt”.
Công ty Than Hà Tu thì lại tận dụng đất đá thải từ mỏ để nghiền sàng, tạo ra một loại phụ gia đặc biệt vừa cung cấp cho Nhà máy xi măng Hải Phòng; vừa có sản phẩm để bán vừa không phải mất diện tích đổ thải, thật là nhất cử lưỡng thiện.
Công ty cổ phần tập đoàn INDEVCO đã thực sự nhạy bén khi biết chớp thời cơ, xây dựng dự án khu lâm viên INDEVCO để tiếp nhận quyền sử dụng khu vực mặt bằng mỏ than Tân Lập tại phường Hà Tu - Thành phố Hạ Long ngay sau khi mỏ này kết thúc khai thác. Mỏ than Tân Lập vốn thuộc địa bàn Thành phố Hạ Long, sau hơn 20 năm hoạt động đã cạn kiệt tài nguyên, phải chuyển sang khai thác tại khu vực Tây Khe Sim và Bắc Cọc Sáu. Văn phòng mỏ Tân Lập cũng được chuyển tới phường Cẩm Đông - Thị xã Cẩm Phả. Nhận biết được tiềm năng của một vùng đất, dự án Khu vực Lâm viên INDEVCO đã nhanh chóng hoàn tất được các thủ tục và bắt tay vào xây dựng cơ bản. Khi tôi đến thăm khu vực vào cuối tháng 3 - 2008, công việc cải tạo hạ tầng cơ sở ở đây đang được tiến hành hết sức khẩn trương: Tuyến suối Khe Hùm đã được nạo vét, xây kè bảo vệ bờ suối tới tận thượng nguồn. Con đường bê tông rộng hơn 10m với các bồn hoa, cây cảnh suốt dọc 2 bên đường đang được hoàn thiện những phần việc cuối cùng… chẳng baô lâu nữa, nơi đây sẽ trở thành một địa danh nổi tiếng được nhiều người biết tới.
Khen INDEVCO nhạy bén thì cũng hơi thừa, nhưng nếu bạn biết rằng, tỉnh Quảng Ninh, với đủ mọi thế mạnh về giao thông đường bộ, cảng biển, công nghiệp, du lịch, cửa khẩu, nguồn nhân lực chất lượng cao… lại đứng ở thứ bậc rất thấp trong bảng xếp hạng của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về thu hút đầu tư chỉ vì không có quĩ đất “sạch” giao cho nhà đầu tư thì mới thấy hết được giá trị của khu vực mặt bằng thuộc Thành phố Hạ Long rộng tới vài chục héc ta chỉ cách Quốc lộ 18A chưa đầy 3 km đường nhựa này.
Song, dự án tầm cỡ nhất hiện nay về tái sử dụng đất đai sau khi khai thác mỏ phải kể đến Tổ hợp Công nghiệp - Môi trường Đông Khe Sim mà xí nghiệp Khe Sim - Tổng Công ty Đông Bắc đang phối hợp cùng công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Mỏ và Công nghiệp TKV xây dựng.
Mỏ Đông Khe Sim với diện tích hơn 350 ha nằm dọc theo Quốc lộ 18A, tiếp giáp với 7 phường trung tâm của Thị xã Cẩm Phả, có sẵn các cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước. Sau khi khai thác, diện tích mặt bằng do các bãi thải trong, ngoài mỏ tạo ra là 127 ha, đủ điều kiện để làm mặt bằng nhà xưởng cho một khu công nghiệp mà không phải tốn chi phí đền bù. Sườn phía nam của dãy núi Đông Khe Sim với mức cao và độ dốc vừa phải nhìn thẳng ra vịnh Bái Tử Long là nơi lý tưởng để xây dựng các khu vực nghỉ dưỡng, cả bình dân và cao cấp.
Theo thiết kế, phải sau 15 - 20 năm nữa mỏ Đông Khe Sim mới hoàn toàn kết thúc khai thác, nhưng những hạng mục công trình hoàn nguyên môi trường đã và đang được thực hiện tại đây thì lại không hề sớm: Gần 200 ha rừng thông, keo tai tượng và cây ăn quả; một hồ chứa nước nhân tạo với dung tích 57.500 m3 nước; tuyến đường bê tông nội bộ mỏ; hệ thống cung cấp điện, cung cấp nước đã được lắp đặt. Tất cả đều được tính toán để vừa phục vụ nhu cầu trước mắt của mỏ, vừa phù hợp với mục tiêu sử dụng đất của dự án sau khi mỏ ngừng khai thác.
Cũng không cần phải chờ đợi tới tận khi mỏ ngừng khai thác; các kỹ sư của phòng kỹ thuật xí nghiệp Khe Sim cùng các chuyên gia tư vấn đã tính toán tỷ mỉ về trình tự khai thác, đổ thải; quy hoạch của các tầng khai thác, các bãi thải, kho than, hệ thống cấp thoát nước… để trong vòng 3 - 5 năm nữa có thể vừa khai thác mỏ vừa thi công các hạng mục công trình thuộc tổ hợp Công nghiệp - Môi trường trong dự án.
Theo lộ trình chuyển đổi nền kinh tế đất nước, các doanh nghiệp Nhà nước sẽ lần lượt được cổ phần hoá. Với dự án Tổ hợp Công nghiệp - Môi trường Đông Khe Sim này, chắc chắn rằng cổ phiếu của Công ty Cổ phần than Khe Sim sẽ có sức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Định hướng được mục tiêu tái sử dụng đất sau khai thác mỏ ngay từ khâu thiết kế và trong cả quá trình khai thác là lời giải tối ưu cho bài toán kinh tế môi trường, tạo ra “lợi nhuận kép”: Vừa trả lời được câu hỏi: Sau khi kết thúc mỏ người công nhân sẽ đi đâu? Làm gì? vừa biến chi phí để phục hồi môi trường trở thành các khoản đầu tư có hậu quả. Hy vọng rằng các mô hình tái sử dụng đất sau khai thác mỏ ngày càng được nhân rộng nhiều hơn, để tới một ngày nào đó Mỏ tái sử dụng đất cũng sẽ trở thành tiêu chí như các tiêu chí về Mỏ sạch, Mỏ thân thiện với môi trường hiện nay.








