Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/08/2010 18:25 (GMT+7)

Tác dụng của axit hữu cơ trong chăn nuôi lợn, gà và cá

Dưới đây là một số thí nghiệm có liên quan đến tác dụng của axit hữu cơ trong chăn nuôi lợn, gà và cá.

1. Chăn nuôi lợn

1.1 Thí nghiệm sử dụng axit hữu cơ trong chăn nuôi lợn ở Anh

- Nơi thí nghiệm: Một trang trại chăn nuôi lợn:

- Lợn thí nghiệm:

+ Lợn lai: Landrace x Duroc x PIC (n = 480 con)

+ Tuổi bắt đầu thí nghiệm: Sau cai sữa (28 ngày tuổi).

+ Tuổi kết thúc thí nghiệm: 49 ngày tuổi.

- Nuôi dưỡng:

+ Nuôi 15 con/ chuồng.

+ Thức ăn, nước uống: tự do.

Lô thí nghiệm: Cho ăn thức ăn có trộn 12 kg FORMI (potassium Diformat)/ 1 tấn thức ăn.

Lô đối chứng: Cho ăn thức ăn không trộn FORMI hoặc không trộn chất kícht hích sinh trưởng tự nhiên.

- Theo dõi thí nghiệm: Trong quá trình thí nghiệm và kết thúc thí nghiệm.

- Kết quả thí nghiệm: Theo Eidelsburger và cs, 2007:

+ Năng suất của lợn ở lô thí nghiệm tăng rõ rệt so với ở lô đối chứng (p < 0,05)

+ Trong đó khối lượng cải tiến 14%, lượng thức ăn ăn được tăng 3,8%; chỉ số hoá thức ăn cải tiến 9,4%/

1.2 Thí nghiệm sử dụng axit hữu cơ trong chăn nuôi lợn ở Thái Lan

­- Nơi thí nghiệm: Bộ môn Chăn nuôi - Trường Đại học Khon Kaen.

- Lợn thí nghiệm:

+ Lợn lai: Landrace x Yorkshire x Duroc (n = 240 con)

+ Tuổi bắt đầu thí nghiệm: Sau cai sữa (21 ngày).

+ Tuổi kết thúc thí nghiệm: 35 ngày tuổi.

- Nuôi dưỡng:

+ Nuôi 15 con/ chuồng.

+ Thức ăn, nước uống tự do.

Lô thí nghiệm có 4 nhóm, cho ăn 3 loại thức ăn có lượng FORMI (Potassium Doformate) khác nhau: 3 – 6 – 9 – 12 kg/ tấn thức ăn.

Lô đối chứng: có 1 nhóm, cho ăn thức ăn có trộn Anti Biotic Growth Promateur – AGP (110mg Tylosin + 110 mg Sulfamethazine + 110 mg Colistin).

- Theo dõi thí nghiệm: Trong quá trình thí nghiệm và lúc kết thúc thí nghiệm.

- Kết quả thí nghiệm:

Tính trạng

Đối chứng

Thí nghiệm

3 kg/T

6 kg/T

9 kg/T

12 kg/T

Số lợn con (con)

48

48

48

48

48

Khối lượng bắt đầu (kg)

6,32

6,30

6,33

6,33

6,32

Khối lượng kết thúc (kg)

19,34

20,17

21,03

21,31

21,37

Tăng khối lượng/ ngày:

+ Gam

+ % cải tiến

372

-

396

6,5

420

12,9

428

15,1

430

15,6

Lượng thức ăn ăn được:

+ Gam

709

722

714

694

690

Chỉ số tiêu tốn thức ăn:

+ CSTTTĂ

+ % cải tiến

1,91

-

1,82

4,7

1,70

11,0

1,62

15,2

1,60

16,2

Tỷ lệ chết

6,25

4,15

0

0

0

Như vậy năng suất của lô lợn cho thêm 12 kg FORMI/ 1 tấn thức ăn là tốt nhất.

2. Chăn nuôi gia cầm

Thí nghiệm được tiến hành ở Tây Ban Nha.

Chọn 1.750 con gà thịt 1 ngày tuổi, chia làm 14 lô, mỗi lô có 125 con gà.

Có 10 lô thí nghiệm, trong đó có 5 lô được ăn 3 kg FORMI NDF trong 1 tấn thức ăn, 5 lô được ăn 5 kg FORMI NDF troing 1 tấn thức ăn (FORMI NDF là một hỗn hợp Sodium formate và formic axit).

Có 4 lô đối chứng không sử dụng FORMI NDF.

Gà được ăn các loại thức ăn theo 3 giai đoạn: bắt đầu (21 ngày) – sinh trưởng (18 ngày) và kết thúc (3 ngày).

Lấy phân kiểm tra ở ngày thứ 21.

Kết quả thí nghiệm như sau:

- Tác dụng của FORMI NDF đối với việc hạn chế sự phát triển của Campylobacter (% mẫu dương tính):

Bộ phận

Đối chứng

FORMI NDF 0,3%

FORMI NDF 0,6%

Diều (vi sinh vật)

60

0

0

Ruột (vi sinh vật)

80

20

0

Thịt (Serol)

80

0

0

- Tác dụng của FORMI NDF đối với việc hạn chế sự phát triển của Salmonella (% mẫu dương tính)

Bộ phận

Đối chứng

FORMI NDF 0,3%

FORMI NDF 0,6%

Diều (vi sinh vật)

25

0

0

Ruột (vi sinh vật)

25

0

0

Phân (vi sinh vật)

25

0

0

Thịt (Serol)

0

0

0

- Lượng vi sinh vật ở ruột gà (CFV/g)            

Vi sinh vật

Đối chứng

FORMI NDF 0,6%

Enterobateria

107

105

Lactobacillli

107

108

Bifidobacteria

105

106

Như vậy:

- FORMI NDF đã làm giảm sự phát triển của Campylobacter và Salmonella ở gà thịt và làm giảm vi sinh vật ở diều và phân. Do đó, cải thiện được việc sử dụng thức ăn.

- FORMI NDF đã hạn chế được sự phát triển vi sinh vật gây bệnh ở gà.

3. Nuôi cá

Ở Indonesia đã nuôi cá con (nuôi trong 85 ngày). Mỗi ngày cho ăn Aquaform (một chất tương tự như FORMI) với các tỷ lệ 0% - 0,25% - 0,3% và 0,5% trong 6 lần. Thức ăn có chứa 32% protein thô, 25% carbohydrate, 6% lipid và 10% xơ.

Kết quả cho biết

Tỷ lệ Aquaform trong thức ăn

0%

0,2%

0,3%

0,5%

Khối lượng bắt đầu (kg)

16,7

16,7

16,7

16,7

Khối lượng kết thúc (kg)

218 a

258 c

246 b

252 bc

Tiêu tốn thức ăn

1,34 a

1,23 b

1,25 b

1,22 c

Tỷ lệ chết từ ngày 10 – 85 (%)

33,0 a

20,8 b

18,4 b

11,0 c

Trong cùng một hàng, các số mang các chữ số khác nhau thì khác nhau với P < 0,05.

Như vậy Aquaform đã làm:

- Tăng lượng thức ăn ăn vào (P < 0,01)

- Tăng khối lượng (P < 0,01)

- Giảm tiêu tốn thức ăn (P < 0,01)

- Tăng hiệu quả sử dụng protein (P < 0,05)   

- Tăng tỷ lệ nuôi sống (P < 0,01).

Sử dụng 0,2% Aquaform để nuôi cá là tốt nhất (trong việc kiểm soát bệnh vi khuẩn ở cá con).

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.