Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 28/02/2005 21:23 (GMT+7)

Tác động của kinh tế tri thức và sự phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam

Vấn đề đặt ra là phải xác định rõ trí thức là ai, những chính sách của Nhà nước có tạo ra cho họ sự tiếp cận với kinh tế tri thức hay không, và do đó, tác động của kinh tế tri thức như là một xu thếtoàn cầu có ảnh hưởng gì đến sự phát triển của đội ngũ này.

Phải thừa nhận rằng, trong thế giới hiện đại - thế giới đang từng bước đi vào kinh tế tri thức - nhịp độ tích cực sáng tạo ra những tri thức mới cũng như sự lỗi thời nhanh chóng của tri thức diễn ramạnh mẽ chưa từng thấy. Trong nhịp độ chung ấy, khái niệm trí thức trong tư duy của chúng ta cũng trở nên quá lỗi thời, nhiều chỗ, nó đóng băng lại khiến cho trong nền sản xuất của đầu thế kỷ 21 màchúng ta tham gia vào, bóng dáng người trí thức trong thời đại tư bản chủ nghĩa vẫn được chỗ này hay chỗ khác đính nó vào với chính người trí thức do chúng ta đào tạo ra trong điều kiện mới, tronghoàn cảnh mới. Thoạt nghe thì tưởng là một nghịch lý, nhưng thực tế quả là như vậy.

Karl Marx đã có một dự đoán thiên tài về một thời điểm nào đó trong lịch sử phát triển của nhân loại, khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Diễn giải tư tưởng này của Marx hoàn toànkhông đơn giản, nhưng thực tế sản xuất cho thấy, điều khác biệt trong sản xuất khi khoa học đã trở nên một lực lượng trực tiếp, chu kỳ tiếp thị và thiết kế, tạo ý tưởng và phát minh, thi công và làmra sản phẩm mới được co lại đến nỗi mà, chỉ ba bốn thập kỷ trôi qua, nếu như lúc đầu một chu kỳ sản phẩm được phép kéo dài tới 40 năm thì ngày nay có chu kỳ sản phẩm chỉ là 40 tuần.

Sự sống còn của không ít doanh nghiệp, và rồi của chung các doanh nghiệp sẽ là ở chỗ, các sản phẩm của họ phải chiếm lĩnh thị trường trước khi sự cạnh tranh có thể sao chép được chúng. Trong các xínghiệp, các xưởng sản xuất lúc này xuất hiện một con người, thật ra cũng không mới mẻ gì, mà chỉ là con người thay đổi những cách tác nghiệp: ngày trước, họ ngồi ở phòng thí nghiệm, họ đưa ra ýtưởng, họ tạo mẫu..., còn quá trình sản xuất có đưa sản phẩm của họ vào kế hoạch không có thể còn một thời gian dài. Ngày nay, con người đó cùng với những lao động khác phải sống bằng những thay đổihết sức nhanh chóng của sản phẩm, do vậy họ trở thành người lao động trực tiếp. Chỉ có điều là, những lao động khác không có vốn tri thức như họ thì không thể thay thế họ được. Người đó, ngày trướcgọi là những trí thức, sống biệt lập với giới thợ thuyền cho dù giới này thi công những gì họ thiết kế. Còn trong kinh tế tri thức, nên hiểu trí thức hiện đại là những lao động trực tiếp. Điều hiểubiết này có áp dụng cho giới khoa học xã hội và nhân văn không? Đó là đương nhiên. Hàng chục năm qua, có tới cả nghìn cán bộ khoa học xã hội và nhân văn sống bằng các đề tài, các dự án, các chươngtrình, mà thực chất là sống bằng những hợp đồng. Sản phẩm của họ không mang lại cái mới cho xã hội, dù có thể là cái mới trong khái niệm, cho sự định hướng cho một chính sách cụ thể thì hợp đồng sẽbị xoá bỏ. Xã hội rồi sẽ nghiêm khắc hơn trong việc xem xét sản phẩm của bất cứ công nghệ nào, từ công nghệ sinh học, công nghệ tế bào, công nghệ vật liệu mới... cho đến công nghệ giáo dục, công nghệxử lý các quá trình quản lý xã hội... đều phải được nghiệm thu, được đánh giá. Lúc đó, chẳng có nhà trí thức nào sống bằng các ý tưởng bay bổng trên cuộc sống thực của xã hội. Trí thức là những ngườilao động trực tiếp bằng trí tuệ của họ. Không nên coi họ là công nhân, nhưng cũng không nên coi họ là giai tầng đứng ngoài sản xuất. Đến một trình độ phát triển nào đó, công nhân phải được trí thứchoá (như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói từ giữa thế kỷ trước), và tự công nhân sẽ trở thành những lao động trí thức (Knowledge Workers). Vậy là, từ thành phần xã hội đã có lúc tưởng họ quá xa nhau thìnay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại lại tạo ra cho họ một viễn cảnh phát triển chung: trở thành những lao động trí thức trên các mặt trận sản xuất.

Nếu nói kinh tế tri thức sẽ tác động vào đội ngũ trí thức ra sao thì trước hết, nó sẽ loại trừ những trí thức không đáp ứng với một nền kinh tế mà trong đó công nghệ mới sẽ tiếp tục làm thay đổiphương thức sống và làm việc của những người vốn từ trước tới nay được coi là lao động trí óc. Đổi mới không là hoạt động chủ đạo của mình thì lao động trí óc sớm muộn sẽ bị đào thải khỏi việc làm.Do vậy, với trí thức, không gian học tập hình như mở rộng rất nhanh trên cơ sở phân công lao động và sự phân định phạm vi học tập của con người trong phòng thiết kế cũng như trong xưởng máy. Do vậy,việc tìm kiếm các cơ hội học hành cũng bức xúc như trước đây người ta tìm kiếm chỗ làm việc, và nhiều khi, không có thời gian học hành thì không thể giữ được việc làm hoặc không tìm được việclàm.

Ở Việt Nam, tình hình này có thực hay không? Riêng cá nhân mình, tôi thấy đó là một thực tế. Giả sử, sáng mai sau khi thức dậy, chúng ta được đọc một thông báo rằng, bắt đầu từ nay, ai cũng phải kýhợp đồng với nhà nước chứ không làm việc theo biên chế cố định như bây giờ thì điều gì xảy ra. Tôi chắc rằng, có vô khối người vốn tự xưng là trí thức nhưng nhà nước sẽ không ký hợp đồng làm việc vớihọ nữa, mà lý do chủ yếu là họ chỉ đại diện cho một lô kiến thức cũ kỹ, lỗi thời, quen thói ngồi chơi xơi nước ở cơ quan.

Vậy thì, kinh tế tri thức có tác động, nhưng nếu chỗ nào đó tác động không có hiệu quả thì nên tìm nguyên nhân ở cơ chế, ở chính sách chứ cuộc sống thực thì mong muốn trí thức chúng ta thực sự đi đầutrong đổi mới và thực sự là người lao động sản xuất trực tiếp theo đúng nghĩa của kinh tế tri thức.

Việc sản sinh ra tri thức khoa học là chức năng của trí thức. Cho dù hệ thống sản sinh tri thức ngày càng được phân bổ rộng rãi ở nhiều chốn, nhiều nơi, nhiều lĩnh vực lao động và nhiều người khácnhau, song phải khẳng định rằng, cơ sở để sản sinh ra trí thức là công việc nghiên cứu khoa học. Nói như vậy cũng tức là khẳng định rằng, công nhân và nông dân không lấy chức năng này làm chính. Nếutrong sản xuất, công nhân và nông dân tham gia vào quá trình nghiên cứu nào đấy thì không có nghĩa là họ trở thành nhà khoa học, mà họ sẽ chủ yếu ứng dụng tri thức mới vào sản xuất, vào cải tiến côngcụ và đổi mới phương pháp làm việc. Chúng ta yêu cầu các nhà trí thức có nhiệm vụ hướng dẫn, tổ chức quần chúng tiến quân mạnh mẽ vào khoa học và công nghệ chứ chúng ta không yêu cầu công, nông trởthành nhà khoa học, lấy nghiên cứu làm nhiệm vụ chính của mình.

Ở những quốc gia có điều kiện hơn, trong quá trình đi vào kinh tế tri thức, ta thường bắt gặp xu thế gia tăng vốn vô hình, trong đó có 2 phần quan trọng: a)giáo dục -đào tạo, nghiên cứu - phát triển,thông tin và điều phối... nhằm tăng năng lực sản sinh và chuyển giao tri thức; b)chi phí cho sức khoẻ để nâng cao năng lực thể chất với tư cách là một phần quan trọng của vốn con người (hay tư bảnngười). Nhiều công trình của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OCDE) cho thấy có không ít nước đã có mức đầu tư ổn định và khá cao cho nghiên cứu - phát triển, giáo dục và đào tạo. Chính vì vậymà họ đạt được mức tăng trưởng kinh tế nhanh và bền. Nói tóm lại, coi trọng khoa học và công nghệ và từ đó suy ra rằng, coi trọng việc đầu tư cho đội ngũ trí thức, là thái độ của một nền kinh tế hiệnđại. Thực ra, ông cha ta cũng nhận thức được điều này từ lâu, chẳng hạn, Lê Quý Đôn cũng đã từng nói rằng "Phi trí bất hưng" hàng mấy trăm năm rồi.

Ở Mỹ, có một công trình nghiên cứu đưa ra kết quả khá thú vị: người ta tính lượng GDP được tạo ra do những người lao động có trình độ giáo dục tương ứng với số năm đi học là 10,5; 12,5 và 14 năm. Kếtquả cho thấy nhóm thứ 3 đã tạo ra hơn 50% GDP. ở Nga, cũng có một công trình tương tự; những người có trình độ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 25% tổng số người làm việc, nhưng lại tạo ra 56% GDP.

Những số liệu trên đây cho chúng ta thấy rõ một vấn đề: vốn con người trong xã hội cần được tăng lên, song phải rất quan tâm đến việc tạo ra đội ngũ lao động trí tuệ có trình độ cao, bởi đó là lựclượng mang lại nguồn thu nhập lớn nhất trong tổng thu nhập quốc nội. Đội ngũ lao động trí tuệ ấy chính là những trí thức mà các trường đại học là nơi đã đào tạo ra họ. Vấn đề bây giờ là, xem xét khảnăng của hệ thống đại học do chúng ta xây dựng ra sao.

Có một điều cần phải thừa nhận rằng, một ngành nào đó muốn sáng tạo tri thức thật nhanh chóng thì trong ngành đó, giữa khoa học và công nghệ có sự tương tác chặt chẽ và mạnh mẽ. Giữa ý tưởng với ứngdụng phải có thực nghiệm để kiểm soát những tiến bộ công nghệ từ đó dẫn đến những cải tiến thiết bị khoa học, các phương pháp thực nghiệm được hoàn thiện hơn. Do đó, giữa khoa học và công nghệ có mốiquan hệ rất khăng khít.

Một trong những vấn đề đi vào kinh tế tri thức là đầu tư cho nghiên cứu-phát triển. Nếu xem xét tỉ trọng đầu tư cho nghiên cứu phát triển từ GDP tính theo phần trăm thì Việt Nam không thua hoặc cònhơn một số nước hoặc lãnh thổ, ví dụ tỉ trọng ấy ở Việt Nam là 0,23; trong khi đó, ở Hồng Kông là 0,253; Malaysia là 0,1999; song về con số tuyệt đối thì GDP của họ lớn hơn nhiều so với ta nên nguồnđầu tư cho nghiên cứu phát triển cũng lớn hơn nhiều. Ví dụ, năm 1999, GDP của Hồng Kông là: 158,6 tỷ USD, Malaysia là 78,9 tỷ USD, còn Việt Nam chỉ là 30 tỷ. Tính ra, ngân sách của họ đầu tư vàonghiên cứu phát triển lớn hơn chúng ta là điều chắc chắn. Song, nếu so với những nước phát triển thì có thể nói còn rất lâu chúng ta mới bằng họ (GDP của Mỹ năm 1999 là 9248,5 tỷ USD; tỷ trọng đầu tưphát triển/GDP của họ là 2,679%. Con số tương ứng ở Nhật Bản là 4.367, 7 tỷ USD và 2,913%; Đức là: 2.091 tỷ USD và 2,313% v.v..).

Trong khi kinh tế tri thức chưa tác động đến đội ngũ trí thức chúng ta nhiều lắm thì thị trường sơ khai trong xã hội ta lại có những tác động tiêu cực đến công tác đào tạo và từ đó làm cho một bộphận trí thức của chúng ta kém về chất lượng chuyên môn và đạo đức. Nạn học giả - chứng chỉ thật là điều nhức nhối hiện nay. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành kiểm ra một số lớp học tại chức tại 12tỉnh, thành (Nghệ An, Hải Phòng, Thanh Hoá, Hà Nội, Hà Tây, Nam Định, Đà Nẵng, Ninh Bình, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Thái Nguyên), trong 4.514 văn bằng được kiểm tra đã phát hiện 422 vănbằng bất hợp pháp (chiếm tỉ lệ 9,3% số trường hợp được kiểm tra). Tỉ lệ ấy thật đáng để suy nghĩ. Đến hết năm 2002, đã có 1.067.049 văn bằng, chứng chỉ được kiểm tra và phát hiện 5.742 lượt người sửdụng văn bằng bất hợp pháp.

Ở nước ta, muốn đi vào kinh tế tri thức, trước hết phải chuẩn bị đội ngũ trí thức được đào tạo thật bài bản. Hình như hệ thống giáo dục của chúng ta chưa nghĩ đến điều này và cứ đào tạo trí thức theoý chủ quan của mình, không quan tâm đến xu thế phát triển kinh tế tri thức. Tôi nói điều này khi liên hệ tới những nhận xét được đưa ra trong bản tin: "Kinh tế tri thức và xã hội tri thức" số11/2002. Trong bản tin này, người ta cho rằng, nền kinh tế tri thức xuất hiện khi có một tập hợp người cùng tạo ra các tri thức mới một cách mạnh mẽ bằng công nghệ thông tin. Tập hợp người đó đượcgọi là cộng đồng tri thức với 3 hợp phần:

- Sản sinh và tái tạo tri thức;

- Tạo ra không gian, trao đổi và giao lưu trí thức;

- Vận dụng công nghệ thông tin để điều hòa và chuyển giao tri thức mới.

Có một nhận xét đáng chú ý: Cộng đồng thầy thuốc đã bắt đầu chuyển sang kinh tế tri thức; trong cộng đồng này, các thành viên thông báo và sử dụng các tri thức mới, tận dụng rộng rãi các cơ sở dữliệu điện tử do từng người truy cập ngay từ nơi làm việc của mình, từng người tìm tòi và nuôi dưỡng nguồn tri thức chung.

Trong khi đó, cộng đồng nhà giáo vẫn đứng ngoài kinh tế tri thức. Những tìm kiếm các giải pháp mới cho các vấn đề sư phạm tuy sôi động nhưng lại không được phổ biến giữa các thành viên. Xem ra,trường học thích ứng chậm với những yêu cầu của kinh tế tri thức và do vậy, vấn đề đào tạo có thể bảo thủ trước sự chuyển đổi kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức.

Vì thế, một cuộc cách mạng về chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo là rất cần thiết, nếu không thì khó có thể đào tạo đón đầu kinh tế tri thức trong một số năm tới.

Xem Thêm

Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.
Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.

Tin mới

Tuổi trẻ Liên hiệp Hội Việt Nam hướng tới chào mừng Đại hội IX bằng những công trình thiết thực
Ngày 25/8, Đoàn Thanh niên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) thực hiện công trình thanh niên hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031, gồm hai hoạt động chính là cải tạo, chỉnh trang và gắn biển “Vườn hoa Thanh niên” và số hóa Phòng Truyền thống Liên hiệp Hội Việt Nam.
489 đại biểu chính thức tham dự Đại hội Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX
Ngày 24/8 tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức gặp mặt đại diện các cơ quan báo chí, thông tin về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031. Theo Ban Tổ chức, Đại hội sẽ diễn ra trong hai ngày 27 và 28/8 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với chủ đề “Đoàn kết - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”.
Phú Thọ: Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch và tuân thủ chất lượng sản phẩm
Ngày 21/8/2026, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Phú Thọ, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, trực tiếp là Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, phối hợp với Hội Mã số Mã vạch Việt Nam tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến kiến thức về truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch, ghi nhãn hàng hóa và công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Lào Cai: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng làm Trưởng ban Tổ chức Hội thi
Ngày 20/8, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Nguyễn Tuấn Anh đã ký ban hành Quyết định số 2945/QĐ-UBND về việc kiện toàn và thành lập Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật cùng Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng cấp tỉnh. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng được tín nhiệm giao trọng trách Trưởng ban.
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 8/2026: tập trung hoàn tất công tác tổ chức Đại hội IX
Chiều 22/8, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức hội nghị thường kỳ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 8, triển khai nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026 và báo cáo công tác chỉ đạo chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc LHHVN lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031.
Vĩnh Long: Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngày 21/8/2026, tại xã An Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Chi cục Môi trường tỉnh và UBND xã An Phú Tân tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ.
GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.
Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.