Tác động của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam
Thương hiệu Vinashin
Những năm gần đây, ngành Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam mà Vinashin là nòng cốt đã đạt được sự phát triển mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực. So với năm 2001, doanh thu năm 2005 của Vinashin tăng 5,64 lần, sản lượng tăng 5,92 lần. Thành công trong một loạt sản phẩm tàu đóng mới đã khẳng định uy tín và thương hiệu của Vinashin trên thị trường trong nước và quốc tế, điển hình là series tàu chở hàng 6.500 T và 12.500 T, tàu chở khách cao tốc, tàu hút bùn 1.500 m3/h, tàu chở container 1.016 TEU, ụ nổi 8.500 T, tàu 8.700 T xuất khẩu cho Nhật Bản, tàu hàng 12.500 T và 15.000 T xuẩt khẩu cho Vương quốc Anh cùng một loạt hợp đồng đóng mới tàu xuất khẩu với tổng giá trị 5 tỷ USD (20 tàu 53.000 T, 8 tàu 34.000 T cho chủ tàu Graig - Vương quốc Anh; 16 tàu chở ô tô cho chủ tàu Israel, các loại tàu hàng, tàu chở dầu 105.000 T, tàu chở dàn khoan dầu khí, tàu chở container cỡ lớn cho chủ tàu Cộng hoà Liên bang Đức, Hy Lạp, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ...) đã khẳng định sự trưởng thành vượt bậc trong công nghệ đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ của Vinashin.
Đạt được những kết quả đáng khích lệ đó là do Vinashin đã thực sự quan tâm đầu tư cho phát triển KH&CN, quyết tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng: Tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, hiện đại hoá một số khâu then chốt trong chế tạo, chú trọng phát triển công nghiệp đóng tàu và sửa chữa tàu, đặc biệt là loại tàu có trọng tải lớn. Trong đó, việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, đặc biệt là các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình KH&CN cấp nhà nước KC.06: “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm chủ lực và sản phẩm xuất khẩu” có tác dụng quan trọng, góp phần đáng kể giải quyết những vấn đề KH&CN bức xúc nhất của ngành.
Về nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, kiểm định
Có thể nói, đây là khâu quan trọng trong việc phát triển KH&CN của Vinashin. Để tiếp cận với công nghệ hiện đại, Vinashin đã tiến hành nghiên cứu, thực hiện một loạt đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm cấp nhà nước, cấp bộ và của đơn vị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, tạo ra năng lực sản xuất mới. Các đề tài, dự án như: Đề tài KC.06.01CN: “Nghiên cứu các thiết bị và phương pháp công nghệ cơ bản phục vụ cho đóng tàu thuỷ cỡ lớn”; Dự án: “Hoàn thiện thiết kế, thi công đà bán ụ 25.000 T”; Đề tài KC.06.18CN: “Nghiên cứu lựa chọn công nghệ đóng mới tàu chở dầu thô trọng tải 100.000 T tại Việt Nam”; Đề tài: “Nghiên cứu xây dựng trường thử tàu ở Việt Nam”; Dự án KC.06.DA.19CN: “Thiết kế thi công và chế tạo dây chuyền lắp ráp tự động thân tàu chở hàng rời 53.000 T để xuất khẩu”; Dự án: “Hoàn thiện thiết kế và công nghệ thi công tàu hút bùn công suất lớn hơn 1.500 m3/h”... đã góp phần giúp Vinashin đóng mới thành công tàu kéo biển công suất lớn, tàu hàng đa năng, tàu hút bùn... phục vụ xuất khẩu (với giá trị hơn 50 triệu USD).
Song song với việc nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, Vinashin đã tích cực triển khai xây dựng Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia - Bể thử mô hình tàu thuỷ (đặt tại Viện Khoa học Công nghệ Tàu thuỷ) và đầu tư, nâng cấp các phòng thí nghiệm vật liệu, thiết bị kiểm tra. Bể thử mô hình (với các thiết bị, công nghệ tiên tiến và lực lượng cán bộ khoa học được đào tạo tương xứng) sẽ đóng góp hiệu quả trong việc nghiên cứu, thiết kế, kiểm nghiệm, kiểm định như: Phân tích các con tàu một cách toàn diện nhằm tìm ra giải pháp kỹ thuật tối ưu, bảo đảm các chỉ tiêu kinh tế cao; tự động hoá thử nghiệm mô hình vỏ tàu; tự động hoá thử nghiệm mẫu chân vịt để xử lý và xây dựng các đồ thị đặc tính chân vịt; thử các công trình nổi, công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, công trình ven biển.
Những con tàu do Vinashin đóng mới trong thời gian qua đã thành công trong các chuyến hành trình vượt đại dương, vòng quanh thế giới và bước đầu tạo niềm tin cho các chủ tàu không chỉ đối với hoạt động đóng mới, mà cả đối với công tác thiết kế, thử nghiệm, kiểm định của Việt Nam. Chúng ta đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, phát triển các mối quan hệ hợp tác quốc tế rộng rãi, đủ khả năng cung cấp cho ngành đóng tàu Việt Nam các hoạt động phân cấp tàu tiên tiến của thế giới, giúp các nhà máy chọn vật liệu, công nghệ sản xuất hợp lý và nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng thợ kỹ thuật...
Về phát triển công nghệ và thiết bị phục vụ đóng mới
Xác định KH&CN là động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành, trong thời gian qua, Vinashin đã tập trung đầu tư nhiều trang thiết bị và dây chuyền công nghệ mới như: Thiết bị cắt công nghệ cao, gia công cơ khí, hàn tự động, các thiết bị nâng hạ, đà bán ụ, các thiết bị đo lường, kiểm định phục vụ gia công tôn vỏ tàu thủy và lắp ráp thân tàu thuỷ, các dây chuyền làm sạch, sơn tổng đoạn, các thiết bị điều khiển tự động...
Một số dự án điển hình cần phải kể đến là Dự án KC.06.DA.08CN: “Hoàn thiện công nghệ chế tạo và đưa vào sử dụng cần trục chân đế 120 T”; Dự án: “ Hoàn thiện thiết kế, thi công đà bán ụ 25.000 T” đã chế tạo thành công cần trục 120 T và đà bán ụ 25.000 T trong điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế, bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt: Cần trục 120 T đã phát huy năng lực, giúp Vinashin chế tạo thành công các tổng đoạn dài tới 12 m, rút ngắn thời gian hoàn thiện sau hạ thuỷ và tạo tiền đề quan trọng cho việc đóng thành công các tàu 11.500 T, tàu 13.500 T. Kết hợp với Dự án: “Hoàn thiện công nghệ chế tạo mũi quả lê tàu 6.500 T”, các bước phát triển KH&CN này đã góp phần giúp Vinashin chế tạo thành công các series tàu hàng 6.500 T, 12.500 T đầu tiên ở nước ta với giá thành hạ hơn giá nhập ngoại khoảng 30%. Bằng sự nỗ lực, sáng tạo, cán bộ, công nhân viên, Vinashin đã thực sự phát huy tối đa hiệu quả đầu tư, thích ứng và bắt nhịp nhanh với KH&CN hiện đại, làm chủ công nghệ, góp phần làm lợi hàng chục tỷ đồng cho đất nước. Dự án KC.06.DA.12CN đã góp phần tự động hoá việc gia công, chế tạo, lắp ráp vỏ tàu thuỷ với chất lượng cao, giảm đáng kể thời gian thi công (các điều kiện quan trọng để đóng các tàu cỡ lớn và tàu xuất khẩu). Kết quả của dự án đang được áp dụng rộng rãi trong các nhà máy đóng tàu. Dự án KC.06.DA.19CN đã mở ra hướng mới trong việc áp dụng phương pháp lắp ráp tự động để đóng thân tàu trọng tải 53.000 T, có thể chế tạo các block nặng 55 tấn với các thiết bị ép thuỷ lực 700 T, máy lốc tôn cỡ lớn, tiến hành triển khai chương trình phóng dạng hạ liệu tự động các chi tiết thân vỏ của tàu. Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy ép chấn tôn 1.200 T trong đóng tàu thuỷ cỡ lớn” là điển hình về việc chủ động nghiên cứu, chế tạo các thiết bị công nghệ phức tạp với chất lượng cao, giá thành hạ so với nhập ngoại, phục vụ việc đóng mới các loại tàu thuỷ cỡ lớn. Đặc biệt, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu nêu trên, hệ thống: Triền, đà, nhà xưởng, cầu trục cỡ lớn... do Việt Nam tự nghiên cứu, chế tạo đã góp phần quan trọng trong việc đóng mới hàng loạt tàu có trọng tải lớn (điển hình là tàu 53.000 T).
Về vật liệu và các thiết bị, hệ thống trên tàu
Việc ứng dụng tiến bộ của KH&CN hiện đại vào quá trình sản xuất, đóng mới tàu đã làm thay đổi từng bước năng lực công nghệ của ngành. Tuy vậy, để đảm bảo sự phát triển bền vững và cạnh tranh, hội nhập thành công thì việc nội địa hoá các vật liệu, trang thiết bị và hệ thống trên tàu thuỷ có ý nghĩa quan trọng. Vinashin đã chủ động đề xuất và thực hiện các dự án sản xuất thiết bị, hoàn thiện công nghệ có hàm lượng KH&CN cao, điển hình là: Dự án: “Hoàn thiện công nghệ sản xuất vật liệu hàn chất lượng cao dùng cho đóng tàu” đã tạo ra nhiều loại dây hàn, que hàn chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế với giá thành hạ, phục vụ nhu cầu của ngành và tiến tới xuất khẩu như: NA 6013, NA 7016, NA 7018, NA 70S, NA EH, NT 6013... Đây là các loại que hàn mà mối hàn có độ bền cơ lý cao, ứng dụng thích hợp trong ngành cơ khí. Dự án KC.06.DA.13CN: “Chế tạo một số phần tử và thiết bị điều khiển, đo lường quan trọng trên tàu thuỷ bằng phương pháp chuẩn module và ứng dụng các công nghệ tiên tiến” đã tạo ra nhiều phần tử, thiết bị điều khiển có chất lượng cao, giá thành hạ, là bước cơ bản để tiến tới nội địa hoá các sản phẩm.
Đặc biệt, Vinashin đã và đang tập trung xây dựng các khu công nghiệp phụ trợ, phục vụ các nhà máy đóng tàu như: Nhà máy thép cán nóng để chế tạo thép cường độ cao, thép ống, thép hình và phôi thép công suất 1 triệu tấn/năm; lắp ráp và chế tạo động cơ diesel đến 20.000 CV; lắp ráp và sản xuất thiết bị điện tàu thuỷ, vật liệu trang trí nội thất, xích neo, hộp số, chân vịt biến nước, nồi hơi, que hàn; chế tạo container; sản xuất tôn mạ màu, khí cụ điện tàu thuỷ, thiết bị thuỷ lực; chế tạo kết cấu thép chế tạo tàu thuỷ, hàn ống nối, nồi hơi, bồn áp lực... Hiện nay, Vinashin đang tiến hành xây dựng một loạt khu công nghiệp tàu thuỷ tại Cái Lân (Quảng Ninh), An Hồng (Hải Phòng), Lai Vu (Hải Dương), Mỹ Trung (Nam Định), Dung Quất (Quảng Ngãi)...
Về quản lý chất lượng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đây là lĩnh vực được Vinashin đặt biệt quan tâm trong thời gian vừa qua vì nó có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của ngành. Vinashin đã tiến hành đầu tư nâng cấp, đổi mới công nghệ trong các nhà máy, tổ chức đào tạo và đào tại lại kiến thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật, công nhân,... Do đó, đã nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công nhân cho các đơn vị, từ đó các sản phẩm đóng tàu ngày càng chất lượng hơn, có độ phức tạp và hiện đại hơn, hình thức đẹp hơn, rút ngắn thời gian, đáp ứng yêu cầu về kỹ - mỹ thuật của khách hàng trong và ngoài nước. Các hoạt động khác như phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đã và đang được triển khai sâu rộng trong đội ngũ cán bộ công nhân viên. Đồng thời, việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin cũng được triển khai mạnh mẽ và đạt hiệu quả tốt đối với việc điều hành sản xuất kinh doanh. Nhiều phần mềm đã được nghiên cứu, ứng dụng thành công trong quản lý, thiết kế, tư vấn và thử nghiệm. Vinashin cũng chú trọng đẩy mạnh công tác đạo tạo, đào tạo lại (tại các cơ sở trực thuộc), mở các lớp học văn bằng 2; đưa hàng ngàn lượt cán bộ đi hợp tác và đào tạo ở nước ngoài (Nhật Bản, Hàn Quốc, Ba Lan, Trung Quốc...). Đặc biệt, thông qua việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và dự án sản xuất thử nghiệm, đội ngũ cán bộ KH&CN của Vinashin đã có điều kiện tiếp cận với nhiều công nghệ mới, trang thiết bị, phần mềm hiện đại..., góp phần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ.
Về đổi mới, chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế
Vinashin đã thực hiện khá thành công nhiều hoạt động chuyển giao công nghệ trong nghiên cứu, thiết kế, tư vấn, thử nghiệm với Nhật Bản, Ba Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đan Mạch... Nhờ đó, từ chỗ hơn 10 năm trước còn phải nghiên cứu thiết kế để đóng mới tàu chở hàng 3.850 T, đến nay, Vinashin đã có thể thiết kế và đóng mới thành công nhiều loại tàu như 6.500 T, 12.500 T, 15.000 T, 22.000 T,... tiến tới 54.000 T, tàu dầu 120.000 T. Vinashin cũng thực hiện việc chuyển giao công nghệ đóng mới tàu chở dầu 100.000 T, tàu chở container 1.016 TEU, 1.700 TEU với các nhà máy đóng tàu của Ba Lan. Việc hợp tác quốc tế về nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm và đóng mới tàu thuỷ đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành, đặc biệt là trong việc xây dựng Bể thử mô hình tàu thuỷ.
Bên cạnh đó, Vinashin cũng thực hiện thành công việc chuyển giao công nghệ giữa các đơn vị thành viên. Các nhà máy đóng tàu tải trọng lớn chuyển giao công nghệ đóng tàu tải trọng nhỏ (6.500 T đến 12.000 T...) cho các đơn vị đóng mới khác.
Mục tiêu và phương hướng phát triển
Hiện nay, Việt Nam đang đứng thứ 11 về đóng tàu và chúng ta đang phấn đấu trở thành quốc gia đóng tàu thứ 4 trên thế giới vào năm 2015. Để đạt được mục tiêu to lớn đó, Vinashin đã xác định các hướng ưu tiên phát triển trong thời gian tới là:
- Đẩy mạnh các hoạt động KH&CN, coi KH&CN là yếu tố then chốt trong sự phát triển.
- Chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành, coi đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề trọng tâm trong phát triển.
- Tăng cường hợp tác quốc tế để đẩy nhanh việc chuyển giao, ứng dụng các công nghệ mới, nâng cao khả năng cạnh tranh, nhằm thực hiện chiến lược đi tắt, đón đầu.
Bằng một loạt sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm trọng điểm đang và sẽ được thực hiện, với mục tiêu phấn đấu trở thành quốc gia đứng thứ 4 trên thế giới về công nghệ đóng tàu, nhiệm vụ sắp tới của Vinashin là rất nặng nề. Chúng tôi mong muốn tiếp tục được Bộ KH&CN, các bộ, ngành liên quan tạo điều kiện, hỗ trợ nhiều hơn nữa để ngành Công nghiệp Tàu thuỷ nói chung và Vinashin nói riêng thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học, số 08/2006







