Sự xác định quyền lực chân chính của nhà Lý thế kỷ XI (Phần I)
Nhằm làm sáng tỏ thêm vai trò của vương triều Lý đối với sự phát triển của đất nước nói chung và đối với việc xây dựng Thăng Long nói riêng, chúng tôi xin trích giới thiệu bài viết của Keith Taylor, tiến sĩ sử học, giáo sư về Nghiên cứu văn hoá Việt Nam ở Đại học Cornell Mỹ. Giáo sư là Tổng biên tập Tập san Nghiên cứu Đông Nam Á, đã từng đến Việt Nam nhiều lần trong các chương trình hợp tác nghiên cứu từ năm 1986 đến nay. Vì khuôn khổ tạp chí có hạn, chúng tôi chỉ có thể lược thuật một số ý chính của bài luận văn trên, để bạn đọc có thêm một cái nhìn tham khảo.
Các học giả Việt Nam cũng như nước ngoài thường thiên về ý kiến cho rằng bắt đầu từ nhà Lý, Việt Nam đã thành một nhà nước tập trung, thực tế kiểm soát hành chính mọi vùng lãnh thổ trong vương quốc.
Trong những năm gần đây, hai học giả Nhật Bản đã đặt thành nghi vấn quan điểm này. Minoru Katakura nhận xét là sử của triều đình ghi chép rồng luôn luôn xuất hiện trong thời Lý và các vua nhà Lý luôn chủ trì các lễ nghi tôn giáo truyền thống, như hội thề, cầu mưa, rồi ông cho rằng họ Lý tìm cách thiết lập quyền đối với các dòng họ đối địch bằng cách biến các phong tục truyền thống của Việt Nam thành các nghi thức của quốc giáo (1). Ông Yumio Sakurai hiểu rằng ông Katakura cho triều Lý là một triều đại tôn giáo, thần quyền, không phải là một nhà nước dựa trên luật pháp (2) (…).
Một hàm ý của quan điểm này là Việt Nam thời Lý không theo lề lối thể chế triều chính của Trung Quốc, với một bộ máy hành chính quan liêu. Nếu không theo triều chính Trung Quốc thì là kiểu triều chính nào? Từ thần quyền (shamanisme) nghe hơi lạ tai khi nói về Đông Nam Á, và tôi sợ nó không hoàn toàn thích hợp, vì không có bằng chứng nào chứng tỏ các vua Lý dùng đồng cốt để liên hệ với thế giới siêu nhiên, tuy rằng họ có liên hệ với thế giới siêu nhiên bằng những cách khác. Tôi lưu ý đến quyền lực đặc biệt của triều Lý, đến mức độ triều Lý vay mượn từ khuôn mẫu Trung Quốc, mức độ triều Lý không làm theo Trung Quốc mà làm như các dân tộc khác ở Đông Nam Á, mức độ triều Lý thể hiện cái thiên tài của người Việt Nam. Trong khi kiến thức kinh điển của Trung Quốc bị “địa phương hoá” và các hình thức của Trung Quốc chỉ dùng vào mục đích ngoại giao, thì thực chất quyền lực và tính chân chính của nhà Lý là cùng chia sẻ các kiểu cách suy nghĩ với các dân tộc khác ở Đông Nam Á. Các kiểu cách suy nghĩ được thể hiện theo kiểu đặc biệt ở thế kỷ XI này phản ánh các khía cạnh đặc sắc của kinh nghiệm lịch sử Việt Nam.
Sau khi đánh bại sự xâm lăng của Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương, cũng như em rể và hai con của ông khi những người này kế tục sự nghiệp. Những năm 954, người con thứ hai của ông là Ngô Xương Văn lại yêu cầu Nam Hán phong là Tĩnh hải quân tiết độ sứ và được chấp nhận. Chế độ quân chủ của họ Ngô, di sản mong manh của vị anh hùng chết sớm, có vẻ đã mô phỏng theo mẫu “Mười vương quốc” ở Trung Quốc thời đó, và hình như không có một khái niệm vững chắc về quyền lực và tính chân chính trong bối cảnh Việt Nam lúc đó. Cung cách vương triều của các vua thời đó (Bình Vương, Nam Tấn vương, Vạn Thắng vương, Thiên Sách vương) và sự thí nghiệm năm 950 – 951 với hai vua cùng trị vì, nói lên cách ứng phó tình thế, kém sức tưởng tượng, đối với các vấn đề nhất thời. Cố gắng thất bại của Ngô Xương Văn định trở lại các thể thức của nhà Đường, cho đến năm 954, chứng tỏ giai cấp cầm quyền đã suy vong và cái chết của Xương Văn năm 963 dẫn tới sự sụp đổ của quyền lực nhà Ngô và sự nổi bật của Đinh Bộ Lĩnh.
Với Đinh Bộ Lĩnh và chế độ quan chủ Hoa Lư, có những yếu tố mới xuất hiện. Những chuyện về thời niên thiếu của Đinh Bộ Lĩnh thường nhấn mạnh đến sự can thiệp của siêu nhân. Cậu bé Lĩnh được hai con rồng cứu thoát chết. Cha của Lĩnh được coi là một yếu tố khác gắn Lĩnh với Thuỷ thần; thần thoại Việt Nam khẳng định quyền lực của chủ soái bắt nguồn từ Thuỷ cung mà ra. Lĩnh lên nắm quyền lực là nhờ hài cốt của ông cha được táng vào nơi đất phát về địa lý. Lĩnh bị ám sát cũng được giải thích ít nhất bằng bốn truyện, mỗi truyện đều gắn cái chết của Lĩnh với các lực lượng siêu nhiên.
Dù sự can thiệp của siêu nhiên có ý nghĩa như thế nào đối với người Việt Nam đi nữa, rõ ràng nó không được sử dụng trong quan hệ với Trung Quốc. Cũng như vậy, dù khái niệm về quyền lực và tính chính đáng kế thừa từ nhà Đường có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh bang giao Trung - Việt đi nữa, nó có ít hoặc không có tác dụng để các vua Việt Nam xử lý công việc với nhân dân nước mình. Từ thời Đinh Bộ Lĩnh và ít nhất qua đời nhà Lý, khái niệm Trung Quốc về quyền lực và tính chân chính trước hết là một mặt của bang giao Trung Việt.
Hình như triều Lý rất coi trọng quan hệ Trung - Việt, coi đó là vấn đề cơ bản đòi hỏi cố gắng thường xuyên. Khi giải quyết vấn đề biên giới Trung - Việt sau chiến tranh trong những năm 1070, các nhà đàm phán Việt Nam đã tỏ ra khôn khéo và kiên trì, làm cho các đồng sự Trung Quốc phải ngạc nhiên. Bằng chứng rất rõ về tài ngoại giao khôn khéo của triều Lý là năm 1164 đã đòi được Nam Tống phải nâng cao địa vị của Việt Nam và điều chỉnh quan hệ Trung - Việt có lợi cho Việt Nam. Từ thời Đinh Bộ Lĩnh đến 1164, vua Việt Nam chỉ được triều đình Trung Quốc công nhận là quân vương, một kiểu “chư hầu nội bộ”. Đến năm 1164, sứ bộ Việt Nam sang Trung Quốc yêu cầu nâng vua Việt Nam lên hàng quốc vương, yêu cầu này được chấp nhận, vua Việt Nam được coi là “chư hầu ngoại bang”, đất của Việt Nam là một “vương quốc” tách khỏi hệ thống hành chính đế quốc. Tận dụng việc Lê Hoàn đánh thắng quân Tống năm 981, các vua Lý đẩy mạnh truyền thống bảo vệ biên giới của vương quốc, coi đó là một mặt quan trọng nhằm chân chính hoá (hợp pháp hoá) quyền lực của mình. Sự nhất trí trong triều Lý còn dựa trên sự giải quyết thành công mâu thuẫn giữa các dòng họ trong nước và sự biểu lộ mạnh mẽ tính nhạy cảm về tôn giáo và văn hoá của dân Việt Nam.
Các vua Lý tự coi mình là người chứ không phải thần thánh. Đức tính tinh thần của thần thánh, theo lời lẽ của Phập giáo, là lòng trắc ẩn và tính nhân đạo. Chúng kích thích và khơi động những quyền lực siêu nhiên ở trên lãnh thổ Việt Nam (núi, sông, cây cỏ, đồng ruộng) và trong ký ức lịch sử của dân Việt (các vị anh hùng đã khuất). Những quyền lực này được khơi động nhờ nhà vua tuyên ngôn rằng đây là những thần linh bảo vệ vương quốc. Đôi khi người ta còn trích dẫn những tư tưởng kinh điển và lịch sử Trung Quốc. Quá trình này có lẽ là mặt đặc sắc của “tôn giáo thời Lý”, bởi vì đó là hình thức dân Việt Nam “tự phát hiện” sau nhiều thế kỷ bị Trung Quốc đô hộ. Trung Quốc đã phủ nhận và tìm cách bóp nghẹt những yếu tố “khuynh đảo” trong nền văn hoá dân gian của Việt Nam như một thực thể văn hoá và lịch sử chính trị riêng biệt (khác với Trung Quốc). Tôi thấy hình như việc các vua Lý thừa nhận vai trò tôn giáo và siêu nhiên này chính là yếu tố đầu tiên để thiếp lập và duy trì quyền lực và tính chân chính của mình. Về thực chất, ở Việt Nam thế kỷ XI, được “văn minh hoá” tức là thừa nhận quyền lực của các vua Lý và chấp nhận các tư tưởng tôn giáo biện minh cho quyền lực đó. Các thần linh địa phương “tự bộc lộ” mình ủng hộ và bảo vệ các vua Lý, phản ánh sự trung thành chính trị của các bộ tộc địa phương. Quyền lực của các vua Lý chủ yếu là về mặt tinh thần nhưng, trong giới hạn nào đó, cũng liên quan đến đời sống trần tục (…).
Văn hoá của Việt Nam thời Lý là một “nền văn hoá dân tộc” được bao trùm bởi đạo Phật. Tính chất mông lung, linh tinh của những bằng chứng về đạo Phật thời Lý tỏ rõ một nền văn hoá “có mặt khác nhau từ vùng này sang vùng khác, từ địa phương này sang địa phương khác”. Điều này phù hợp với sự phát hiện của Sakurai về cơ sở kinh tế - xã hội của Việt Nam thời Lý, bao hàm ý nghĩa mỗi khu vực có quyền tự chủ cả về kinh tế lẫn chính trị. Bằng chứng thu thập được về thế kỷ XI cho biết có rất nhiều thần thánh và nhiều sự thờ phụng. Vai trò của vua là thiết lập mối quan hệ tin cậy và trung thành với các thần linh địa phương, nhằm quy tụ họ về với trung ương, gắn họ với thực thể Việt đang phát triển trong triều đình. Tôi ngờ rằng quá trình này là thực chất của quyền lực triều Lý, không chỉ là cái bề ngoài che đậy các sắp xếp quân sự và hành chính thực tế khác; nhưng tôi chưa tìm được bằng chứng có sức thuyết phục về điểm này. “Tôn giáo triều Lý” bao gồm các tôn giáo dân gian đang trong quá trình quy tụ thành sự tôn thờ của cả dân tộc đối với quyền lực của nhà vua.
“Tôn giáo triều Lý” mang tính thực nghiệm, vì lúc này là thời kỳ Việt Nam tự phát hiện mình. Những vua Lý đầu tiên “luôn luôn phát hiện” ra những thần linh mới tự xưng rằng mình bảo vệ trung thành quyền lực nhà vua.
Trong những thế kỷ còn bị Trung Quốc đô hộ, các vị anh hùng xứng đáng tượng trưng cho thực thể dân tộc đã bị lãng quên, chỉ trừ ở ngay làng xóm quê hương họ hay ở các địa phương còn đền miếu thờ phụng họ. Người Việt Nam thế kỷ XI thực sự đang cố tự phát hiện xem mình là ai, đang khơi dậy ký ức tập thể Việt, và nhà vua là nhân vật chủ chốt trong cuộc phiêu lưu văn hoá này. Chính với tư cách này, nhà vua đã khơi dậy những thần linh còn lừng chừng, và gắn họ lại thành một cái mộc siêu nhiên bảo vệ cho vương quốc đang hình thành. Sự thờ phụng đa dạng được nhà vua bảo trợ trong thế kỷ XI cho thấy thái độ thực nghiệm, sẵn sàng tiếp nhận thông tin mới; còn đang tìm hiểu chức chưa khẳng định giới hạn của nền văn hoá Việt. Thái độ này đặc biệt hiển nhiên ở vua Lý Phận Mã, nhưng nó cũng là đặc tính của thời đại mà Phật Mã là nhân vật nổi bật nhất, thời đại triều Lý đang lên trong thế kỷ XI.
“Tôn giáo triều Lý” còn không loại trừ các khác biệt về nguồn gốc sắc tộc và khuynh hướng học thuyết. Người Trung Hoa, người Chăm, người Ấn Độ đều tham gia vào sự thức tỉnh này của thực thể Việt. Các hình thức của tư tưởng Phật giáo đều phát triển bên nhau, học vấn kinh điển, sự giác ngộ có tính bình dân, sự bảo trợ của nhà vua, và sự hỷ xả khổ hạnh đều tồn tại song song. Khuynh hướng ưu thế lúc bấy giờ là tìm hiểu, không phải là tìm cách kiểm soát, thử nghiệm hơn là bảo thủ. Người Việt Nam không tách mình một cách có ý thức khỏi 10 thế kỷ bị Trung Quốc đô hộ, họ không tìm đường theo đường lối phản ứng sau thời thực dân như trong thế kỷ XX. Họ không cảm thấy bị Trung Quốc đe doạ về văn hoá. Họ bị quá cuốn hút và khích động vào việc phát hiện và xây dựng nền văn hoá của bản thân mình để nghĩ tới dựng một hành rào ngăn cản các ảnh hưởng đặc biệt khác. Tăng lữ Phật giáo, tăng lữ Đạo giáo và tầng lớp học giả cổ điển đều có đóng góp tích cực. Người Hoa cũng trung thành với nhà vua Việt Nam trong thế kỷ X và XI như những người trung thành nhất sinh trưởng tại Việt Nam. Điều đó có ý nghĩa là dù vua Lý không cố gắng phủ nhận ảnh hưởng của Trung Quốc một cách có ý thức, ảnh hưởng ấy cũng tồn tại rất ít. Trung Quốc là một khó khăn về quân sự và chính trị, nhưng về mặt văn hoá thì không. Trong thế kỷ XI, người Việt Nam phải quan tâm đến những việc khác.
Việt điện u linh tập(VĐULT) tập hợp các truyện về “quyền lực thần linh” ở vương quốc Việt do Lý Tế Xuyên đề tựa năm 1329. Ông cho việc thu thập này là một “hồ sơ chân thực” về những “bí kíp của thần linh”. Ông chú ý tới “những bậc sáng suốt, ngay thẳng mới được gọi là thần” đáng được thờ phụng và cúng tế trong đền miếu, đối lập với “những loại dâm tà, yêu quái và ma quỷ”. Ông tin rằng “xét về phẩm loại các thần có khác nhau” và nếu thành tích của họ không được ghi chép một cách chân thực thì khó mà phân biệt giữa người có ít thành tích và người có nhiều thành tích. Ông chọn ra 28 thần linh “có thành tích lớn” và ghi mọi điều có thể ghi về họ. Sự lựa chọn dựa vào các thần linh đã được triều đình Việt Nam tôn vinh, trong và sau các cuộc xâm lược Mông Nguyên trong những năm 1280, là đã trung thành và đắc lực đấu tranh chống quân thù.
13 trong số 28 thần linh nói trong VĐULT có gắn bó với bốn vua Lý thế kỷ XI, 6 trong số 13 người này gắn với Lý Phật Mã. Không có thời đại lịch sử nào nổi bật là thời đại anh hùng trong VĐULT bằng thời đại các vua Lý đầu tiên, nhất là triều đại Lý Phật Mã. Xem xét qua VĐULT thì giai cấp cầm quyền Việt Nam ở đầu thế kỷ XIV coi thế kỷ XI là thời gian các vị thần linh bảo vệ đất nước sinh ra và tự bộc lộ. Các vua Lý đầu tiên được coi là những người đã quy tụ được những vị thần linh này. VĐULT trích dẫn từ Báo cực truyện (mà tôi cho rằng được viết trong khoảng từ 1069 đến 1090) những tin tức về các vị thần linh: trong năm thần linh có ba thần linh gắn bó với ba vua Lý đầu tiên.
Đó là truyện về Tô Lịch, một người sống trong thời Tấn (280 – 420) ở gần Đại La/Thăng Long/Hà Nội. Con sông chảy qua Hà Nội vẫn giữ cái tên Tô Lịch. Cho mãi đến thời Tuỳ Đường, khu này mới nổi bật về chính trị. Trong thế kỷ VII, chính phủ Trung ương chuyển về đây, và một bức tường được xây dựng bao quanh đô thành. Bức tường này bị bọn phiến loạn và giặc giã đánh phá năm 687, 722, 767. Đến thế kỷ IX, nhà Đường cố sửa chữa và mở rộng tường thành, nhưng luôn luôn bị các quyền lực địa phương chống đối. Quan cai trị Đường bị giết và đuổi ra khỏi thành trong những năm 803, 819, 828, 843, 860 và 863. Trong những năm 820, viên quan cai trị Lý Nguyên Gia di thủ phủ đi chỗ khác.
Địa điểm được Lý Nguyên Gia chọn để xây dựng bức tường mới ở khu dân cư Tô Lịch cũ. Do đó Lý Nguyên Gia gọi Tô Lịch là thần linh bảo vệ tường thành và lập một ngôi đền để thờ. Rồi trong chiêm bao, Lý Nguyên Gia thấy Tô Lịch hiện lên và động viên ông cai trị nhân dân cho đúng đắn. Khi Cao Biền xây dựng lại và mở rộng tường thành năm 866, sau cuộc chiến với Nam Chiếu, ông nghe chuyện về Tô Lịch và Lý Nguyên Gia bèn phong cho Tô Lịch là thần linh bảo vệ thành luỹ mới này.
Khi Công Uẩn dời đô về Đại La, ông đặt tên thủ đô là Thăng Long. Tô Lịch hiện ra trong một chiêm bao của Lý Công Uẩn, sau đó Công Uẩn phong Tô Lịch làm thần linh bảo vệ thủ đô.
______________________
1. Minoru Katakura, Betonamu no rekishi to higshi Ajia(Lịch sử Việt Nam với Đông Á) (Tokyo: Sugiyama shoten, 1977), tr. 64.
2. Yumio Sakurai, “Richo-ki Kôga deruta Keitaku shion” (Đồng bằng sông Hồng dưới thời Lý). Tonan Ajia Kenkyu 18, 2 (9/1980), n. 41.
(Còn nữa)
Nguồn: Xưa và Nay, số 80 tháng 10 – 2000







