Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 30/08/2006 14:33 (GMT+7)

Sốt xuất huyết Dengue: Đông - Tây y chuẩn đoán và điều trị

1. Y học hiện đại

Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm gây dịch do virus Dengue gây nên. Bệnh sốt xuất huyết Dengue có đặc trưng bởi sốt, xuất huyết và có hiện tượng thất thoát huyết tương, dẫn đến sốc giảm thể tích dễ gây tử vong.

Virus gây bệnh được truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt, muỗi Aedes Aegypti là trung gian truyền bệnh chính. Bệnh thường xảy ra quanh năm, những vụ dịch thường xảy ra vào cuối mùa hè và vào đầu mùa mưa.

Chẩn đoán:

* Lâm sàng:

Sốt: khởi phát đột ngột, sốt cao kéo dài liên tục từ 2-7 ngày.

Xuất huyết: xuất huyết nhiều dạng từ nhẹ đến nặng, xuất hiện vào ngày thứ 2-3 của bệnh nhân. Có hiểu hiện như xuất huyết dưới da, chảy máu mũi, chảy máu lợi, nôn ra máu, tiểu ra máu, đi ngoài ra máu, rong kinh...

Gan to, sưng hạch

Một số trường hợp có thể sốc: thường xảy ra vào ngày thứ 3-6.

Biểu hiện: hạ nhiệt độ, da lạnh, đầu chi lạnh. Mạch nhanh, nhỏ, huyết áp hạ. Toàn thân bứt rứt, vật vã.

* Cận lâm sàng:

Xét nghiệp không đặc hiệu: Hematocrit tăng ³ 20% so với giá trị bình thường. Số lượng tiểu cầu £ 100.000/mm 3. Bạch cầu giảm hoặc bình thường.

Xét nghiệm đặc hiệu: phản ứng MAC-ELISA. Phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu (HI). Phân lập virus. Phản ứng khuếch đại chuỗi gien.

Điều trị:

* Hạt sốt: uống paracetamol với liều như sau: dưới 1 tuổi: < 60mg/lần.

Từ 1-3 tuổi: 60-120mg/lần. Từ 3-6 tuổi: 120mg/lần. Từ 6-12 tuổi: 240mg/lần.

Cấm dùng aspirin và các thuốc salicylat để hạ nhiệt độ.

* Bù nước và điện giải:

- Uống dung dịch Oresol, nước trái cây như nước dừa tươi, nước chanh...

- Truyền dịch: được chỉ định khi có: nôn nhiều, không uống được; có dấu hiệu mất nước, tiểu ít; Hematocrit tăng dần, kéo dài; vật vã, li bì.

- Các loại dịch truyền: NaCl 0,9%, Dextrose 5%, Ringer Lactate...

- Truyền máu khi có xuất huyết nặng.

Phân loại độ sốt xuất huyết(theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới-OMS-87158).

* Độ 1: sốt cao. Biểu hiện xuất huyết (dấu hiệu dây thắt dương tính). Tăng thẩm thấu mao mạch nhẹ. Tiểu cầu giảm nhẹ.

* Độ 2: như độ 1, kèm theo: xuất huyết dưới a và các biểu hiện xuất huyết tự phát khác; thoát huyết tương nhẹ; tiểu cầu giảm nhẹ.

* Độ 3: mạch nhanh và yếu, huyết áp kẹt hoặc tụt, da xanh tái, vật vã. Chảy máu bất thường, ồ ạt. Thoát huyết tương nhiều ® choáng. Hạ tiểu cầu nhiều. Tăng thể tích hồng cầu.

* Độ 4: thân nhiệt giảm đột ngột, huyết áp không đo được, mạch không bắt được. Choáng mất máu. Đông máu trong lòng mạch.

2. Y học cổ truyền:

Bệnh danh, cơ chế, phân loại: y học cổ truyền xếp bệnh sốt xuất huyết vào nhóm ôn bệnh và ôn dịch (ôn dịch vì có tính lây lan thành dịch). Chính khí cơ thể suy hư, nhiệt tà xâm phạm vào doanh, vệ, khí, huyết và gây ra bệnh. Diễn biến của bệnh thường trải qua 5 giai đoạn: giai đoạn sốt cao; giai đoạn hạ huyết áp; giai đoạn thiểu niệu; giai đoạn đa niệu và giai đoạn hồi phục. Trong mỗi giai đoạn đều có phép biện chứng và phương dược cụ thể.

Biện chứng luận trị:

* Giai đoạn sốt cao: sốt cao là triệu chứng sớm nhất của bệnh, thường kéo dài từ 3-6 ngày, được chia ra các thể:

- Thể thấp nhiệt kích biểu

Chứng trạng: người sốt sợ lạnh, đau đầu, mặt đỏ, đầu lưỡi và rìa lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng hoạt, mạch phù sác.

Phép chữa: thanh nhiệt, giải biểu.

Phương thuốc: ngân kiều tán gia giảm.

Ngân hoa 15g; liên kiều 10g; bạch mao căn 30g; cát cánh 5g; lô căn 30g; đan bì 10g; đan sâm 15g; hoàng cầm 10g; cam thảo 6g; bạc hà 3g (cho sau).

Sắc uống ngày một thang.

- Thể nhiệt ở khí phận

Chứng trạng: sốt cao không sợ lạnh, mắt sưng đỏ, mặt đỏ, miệng khát muốn uống, người bứt rứt không yên, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác.

Phép chữa: thanh nhiệt giải độc.

Phương thuốc: bạch hổ thang gia giảm:

Thạch cao sống 30g; tri mẫu 10g; trúc diệp 10g, sơn đậu căn 10g; bản lam căn 15g; ngạnh mễ 30g; cam thảo 6g; huyền sân 10g.

Sắc uống ngày 1 thang

- Thể nhiệt ở huyết phận

Chứng trạng: sốt cao vật vã, trên da phát ban, có thể thấy chảy máu mũi, nôn ra máu. Lưỡi đỏ thẫm, rêu vàng khô, mạch huyền sác hoặc tế sác.

Phép chữa: lương huyết, giải độc.

Phương thuốc: thanh ôn bại độc ẩm gia giảm.

Thạch cao sống 60g; tri mẫu 10g; sinh địa 10g; hoàng cầm 15g; chi tử 10g; tê giác 5g (hoặc bột sừng trâu 30g); đan bì 10g; trúc diệp 10g; sinh đại hoàng 6g; huyền sâm 15g; ngân hoa 15g; sinh cam thảo 6g.

Sắc uống ngày 1 thang.

Các bài thuốc Đông y đã được Bộ Y tế quy định sử dụng

Bài thuốc 1: Lá cúc tần 12g; cỏ nhọ nồi 16g; mã đề 16g; trắc bách diệp (sao đen) 16g; sắn dây củ 20g; rau má 16g; lá tre 16g; gừng tươi 3 lát.

Bài thuốc 2: Cỏ nhọ nồi 20g; cối xay (sao vàng) 8g; rễ cỏ tranh 20g; sài đất 20g; kim ngân (hoa, lá, cuộng) 12g; hạ khô thảo 12g; hoè hoa (sao vàng) 10g; gừng tươi 3 lát.

Bài thuốc 3: Cỏ nhọ nồi 20g; cam thảo 6g; hoạt thạch 12g; mã đề 16g; gừng tươi 3 lát.

Cách dùng của từng bài thuốc trên như sau: cho 600ml nước sạch, đun sôi 30 phút, để ấm, uống ngày 3 lần.

Bài thuốc 4: Hoạt thạch 6 phần, cam thảo 1 phần. Tán bột, trộn đều, uống ngày 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê. Hết sốt thì ngừng thuốc.

Liều dùng cho trẻ em:

- Trẻ em từ 1-5 tuổi: liều bằng 1/3 liều người lớn.

- Trẻ em từ 6-13 tuổi: liều bằng 1/2 người lớn.

- Trẻ em từ 14 tuổi trở lên: liều bằng người lớn.

- Trẻ em còn bú mẹ thì cho mẹ uống thuốc, qua sữa mẹ điều trị cho con.

* Giai đoạn hạ huyết áp-sốc: có từ 1/3 đến 2/3 bệnh nhân nhiệt độ giảm thấp từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7, thậm chí có sốc. Giai đoạn này phải điều trị theo phác đồ của Bộ Y tế đã quy định. Sau đây xin giới thiệu các thể bệnh và phương thức của Đông y để phối hợp:

- Thể nhiệt quyết:

Chứng trạng: chân tay quyết lạnh, mặt đỏ, tâm phiền, không sợ lạnh mà sợ nóng, miệng khát, ra mồ hôi, tiểu tiện đỏ, đại tiện bí, lưỡi đỏ, rêu vàng dày, mạch hoạt sác hoặc trầm sác.

Phép chữa: thanh nhiệt giải độc, ích khí sinh tân.

Phương thuốc: Bạch hổ thang hợp với sinh mạch tán gia giảm.

Thạch cao sống 30g; tri mẫu 10g; bản lam căn 15g; tây dương sâm 3g; mạch môn 15g; ngũ vị tử 5g; đan sâm 15g; thăng ma 10g; bạch thược 10g.

Sắc uống ngày một thang.

- Thể hàn quyết:

Chứng trạng: người không sốt, ra mồ hôi lạnh, tứ chi quyết lạnh, miệng nhạt không khát, tinh thần ủ rũ, mặt tái xanh, mạch trầm trì, tế nhược hoặc vi tế muốn tuyệt.

Phép chữa: hồi dương cứu nghịch.

Phương thuốc: Sâm phụ thang gia giảm.

Đẳng sâm 15g; phụ tử chế 10g; ngũ vị tử 10g; thục địa 18g; mạch môn 10g; đan sâm 15g; trích cam thảo 10g; long cốt 30g; mẫu lệ 30g

Sắc uống ngày một thang.

* Giai đoạn thiểu niệu: có một nửa số bệnh nhân mắc bệnh này có biểu hiện thiểu niệu, nhất là các bệnh nhân có sốc kèm theo. Thiểu niệu thường xuất hiện từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 8 của bệnh. Có các thể:

- Thể thận âm hư:

Chứng trạng: tinh thần ủ rũ, tiểu tiện ít, miệng khô, họng khát, tâm phiền bất an, lưỡi đỏ rêu khô, mạch tế sác.

Phép chữa: tư bổ thận âm, dưỡng âm thanh nhiệt.

Phương thuốc: Tri bá bát vị hoàn gia giảm.

Tri mẫu 10g; hoàng bá 10g; sinh địa 10g; sơn dược 15g; phục linh 15g; bạch mao căn 30g; đan bì 10g; mạch môn 10g; sơn thù 10g; trạch tả 10g.

Sắc uống ngày một thang.

- Thể nhiệt động can phong:

Chứng trạng: thiểu niệu, đau đầu, buồn nôn, tinh thần u ám, chân tay co quắp, lưỡi đỏ rêu khô, mạch huyền tế sác.

Phép chữa: thanh nhiệt, giải độc, tức phong trấn kinh.

Phương thuốc: Linh dương cầu đằng thang hợp với tê giác địa hoàng thang gia giảm.

Tê giác 6g (hoặc bột sừng trâu 30g); sinh địa 15g; đan bì 10g; câu đằng 12g; cúc hoa 10g; xích thược 10g; trúc nhự 10g; sa tiền tử 10g; bạch mao căn 30g; linh dương giác 3g.

Sắc uống ngày 1 thang.

- Thể nhiệt kết bàng quang:

Chứng trạng: nhị tiện không lợi, người sốt, miệng khát, bụng dưới đau, tâm phiền bất an, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.

Phép chữa: thông phủ đạo trệ, dưỡng âm thanh nhiệt.

Phương thuốc: Tăng dịch thừa khí thang gia giảm.

Sinh địa 30g; huyền sâm 30g; mạch môn 24g; đại hoàng 15g (cho sau); mang tiêu 18g; đào nhân 10g; chi tử 15g; bạch mao căn 30g; đan sâm 15g.

Sắc uống ngày một thang.

* Giai đoạn đa niệu: có khoảng 2/3 số bệnh nhân qua giai đoạn thiểu niệu sẽ chuyển sang giai đoạn đa niệu.

- Thể phế vị nhiệt thịnh:

Chứng trạng: miệng khô, họng khát, ho khan, tiểu tiện nhiều, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trầm sác.

Phép chữa: thanh phế vị nhiệt, dưỡng âm sinh tân.

Phương thuốc: sa sâm mạch môn thang gia giảm.

Sa sâm 10g; mạch môn 10g; tang diệp 10g; thiên hoa phấn 12g; ngọc trúc 10g; thạch cao sống 30g; trúc diệp 10g; ích chí nhân 10g; cam thảo 3g.

Sắc uống ngày một thang.

- Thể thận khí bất cố:

Chứng trạng: đa niệu, miệng khát muốn uống, tinh thần uể oải, mệt mỏi, ngại nói, lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch hư đại.

Phép chữa: bổ thận cố nhiếp, ích khí sinh tân.

Phương thuốc: bát tiên trường thọ gia giảm.

Mạch môn 10g; đẳng sâm 15g; thục địa 24g; sơn dược 15g; ích chí nhân 10g; ngũ vị tử 5g.

Sắc uống ngày một thang.

* Giai đoạn hồi phục: ở giai đoạn này, các chứng trạng của bệnh lui giảm, chức năng của tạng phủ dần dần được hồi phục. Biểu hiện trên lâm sàng thường là: thận âm bất túc, tỳ dương hư, vị âm không đầy đủ. Có thể gia giảm các phương thuốc sau để chữa:

- Phương thuốc lục vị địa hoàng hoàn:

Thục địa 25g; sơn thù 12g; sơn dược 15g; trạch tả 9g; đan bì 9g; phục linh 12g.

- Phương thuốc sâm linh bạch truật tán:

Đẳng sâm 12g; bạch truật 12g; phục linh 15g; cam thảo 6g; sơn dược 15g; bạch biển đậu 15g; liên tử nhục 12g; ý dĩ 15g; sa nhân 6g; cát cánh 9g.

- Phương thuốc ích vị thang:

Sa sâm 10g; mạch môn 10g; sinh địa 12g; ngọc trúc 12g.

- Phương thuốc bổ trung ích khí:

Đẳng sâm 16g; bạch truật 12g; trần bì 8g; hoàng kỳ 12g; thăng ma 8g; cam thảo 6g; đương quy 12g; sài hồ 10g.

Thuốc sắc: uống mỗi ngày 1 thang, chia 3 lần. Nếu là thuốc hoàn thì uống theo chỉ dẫn ghi trên đơn.

Nguồn: T/c Đông y, số 328, 25/8/2001, tr 6

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.