Sỏi mật và những biến chứng
Thành phần của sỏi mật
Sỏi mật gồm nước muối mật, sắc tố mật canxi… cô đặc dần và thành sỏi. Đây là loại sỏi tổng hợp, hay gặp và có thể phát hiện khi chụp X quang. Ngoài sỏi mật tổng hợp còn có nhiều loại sỏi khác như:
- Sỏi cholesterol: cấu tạo chủ yếu bằng cholesterol là một thành phần chuyển hoá của gan, là một thành phần của mỡ máu. Sỏi có màu vàng sẫm, không cản quang. Sỏi hình thành khi có sự rối loạn về nồng độ cholesterol, axit mật và lecithin. Một số yếu tố thúc đẩy sự hình thành sỏi cholesterol là tuổi, giới (nữ/ nam = 3/1), chủng tộc (đặc biệt cao ở người Chile , Ấn Độ), yếu tố gia đình, béo phì, phụ nữ đẻ nhiều con, uống một số thuốc như thuốc hạ mỡ máu, thuốc ngừa thai, ăn uống quá nhiều năng lượng…
- Sỏi sắc tố mật: thường gặp ở các nước Đông Nam Á và Việt Nam , có hai loại:
+ Sỏi sắc tố đen: màu đen hình dạng không đều, được hình thành khi nồng độ bilirubin không liên hợp trong mật tăng, đây là trường hợp của huyết tán và xơ gan.
+ Sỏi sắc tố nâu: màu nâu hoặc vàng nhạt. Đây là hậu quả của giun chui ống mật và nhiễm trùng đường mật.
- Sỏi muối mật: thường có màu đỏ, cũng dễ kết hợp với canxi.
Biểu hiện khi sỏi mật
Sỏi túi mật có thể có một thời gian dài yên lặng. Khi có biểu hiện lâm sàng, triệu chứng chủ yếu là cơn đau quặn gan dữ dội ở vùng hạ sườn phải, lan ra sau lưng và lên vai phải, đôi khi lan sang cả vùng thượng vị làm dễ nhầm tưởng là đau dạ dày. Cơn đau kéo dài trên 15 phút đến 3 - 4 giờ; nếu trên 6 giờ phải nghĩ đến có biến chứng. Nếu có hiện tượng nghẽn thì túi mật ngày càng to dần lên, khi sờ có thể thấy túi mật căng phồng, ấn vào bệnh nhân rất đau, nếu không xử lý kịp thời có thể đưa đến viêm túi mật cấp tính, sẽ có sốt cao 39 - 40 0C.
![]() |
Ngoài những biểu hiện lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng đặc biệt siêu âm là xét nghiệm cơ bản không xâm lấn giúp phát hiện sỏi 70 - 80%, ngoài ra còn giúp phát hiện tổn thương đường mật, túi mật, tuỵ.
Những biến chứng có thể xảy ra
- Viêm và nhiễm tùng đường mật, túi mật cấp;
- Hoại tử túi mật và thấm mật phúc mạc: đây là biến chứng rất nguy hiểm phải can thiệp ngoại khoa và có thể để lại hậu quả nặng nề;
- Rò túi mật đường mật vào ống tiêu hoá;
- Ứ nước túi mật
- Xơ gan: biến chứng này xảy ra do ứ mật lâu ngày kèm viêm nhiễm do tổn thương nhu mô gan và thay thế bằng tổ chức xơ.
Cần làm gì khi nghi ngờ bị sỏi mật
- Phải đi khám ở cơ sở y tế có đủ điều kiện để xác định xem có bị sỏi mật hay không, từ kết quả này bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị và lời khuyên hợp lý.
- Khi đã có chỉ định điều trị của bác sĩ, người bệnh cần tuân thủ theo hướng dẫn, không được chủ quan.
- Điều trị sỏi mật bao gồm điều trị nguyên nhân là loại bỏ sỏi đồng thời điều trị triệu chứng và biến chứng nếu có. Khi điều trị nội khoa có thể sử dụng các thuốc chống co thắt cơ trơn như atropin, papaverin, nospa, visceralgin… các thuốc chống nhiễm trùng như nhóm aminoglycosid, nhóm quinolon… nhóm thuốc làm tan sỏi như Chenodex, Ursolvan. Tuy nhiên, khi dùng các thuốc này phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
- Khi điều trị nội khoa không có kểt quả cần chuyển sang trị ngoại khoa với các kỹ thuật mới như tán sỏi qua da, lấy sỏi qua nội soi ngược dòng… đã mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh.
Phòng bệnh sỏi mật
- Hạn chế ăn mỡ động vật, phủ tạng động vật, cẩn trọng khi dùng thuốc tránh thai…
- Ăn uống hợp vệ sinh, định kỳ 6 tháng tẩy giun một lần bằng các thuốc chống giun sán như mebendazol, albendazol…
- Thể dục liệu pháp, xoa nắn cơ thành bụng vùng túi mật, có thể sử dụng thuốc nhuậm mật như Chophytol, Sorbitol.
Nguồn Thuốc & Sức khoẻ, số 357, 1 - 6 - 2008, tr 28









