Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 21/02/2011 18:25 (GMT+7)

Sắc diện “Thời gian Việt”

Giọt thời gian Đại Việt

Nhu cầu nhận biết thời gian đã đeo đuổi đời sống con người ngay từ thuở bình minh của văn minh nhân loại. Tuy nhiên ở thời trình độ khoa học kỹ thuật còn sơ khai đã không trợ giúp được gì, buộc người ta phải lợi dụng những hiện tượng thiên nhiên để định lượng thời gian. Lúc đầu, người ta chỉ dựa theo bóng nắng để định thời gian trong ngày. Đồng hồ mặt trời đã ra đời trong bối cảnh như vậy. Lẽ dĩ nhiên, phương pháp đo thời gian này hoàn toàn bị động. Vào những ngày thời tiết xấu, mưa dầm và ban đêm đồng nghĩa với sự “dừng lại của thời gian”. Không chịu bó tay, người xưa chế ra đồng hồ nến hoặc đồng hồ dầu thay thế. Cây nến được khắc chia làm nhiều đoạn đều đặn, khi bờ nến cháy đến đâu, chủ nhân có thể nhận biết khoảng thời gian đã trôi qua.

Chính bởi những hạn chế của phép đo thời gian dựa vào hiện tượng tự nhiên, người xưa đã phát kiến ra một phương pháp đo thời gian khá chính xác, lại đơn giản vào thời Xuân Thu (770 - 476 trước CN) ở Trung Quốc: Chiếc đồng hồ nước (2). Kể từ lúc ra đời, nó tận tụy phục vụ loài người suốt 2.000 năm. Đó cũng là lý do có cái tên “Đồng hồ” mà nghĩa gốc của nó là cái bình đồng đựng nước. Thuật ngữ “Khắc lậu” (nghĩa là chiếc đồng hồ nước) có gốc Hán 100% cho dù ta bắt gặp nó trong cả văn bản Hán lẫn Nôm. Còn “Đồng hồ” hẳn hoi là tên gọi đã được Việt hóa bởi thấy nó xuất hiện trong văn viết chữ Nôm từ giữa thế kỷ XV và chữ Quốc ngữ vào khoảng đầu thế kỷ XX. Văn bản tư liệu sớm nhất về loại đồng hồ nước ở Đại Việt được tìm thấy trong An Nam chí lượccủa Lê Tắc (sách viết trong thế kỷ XIII). Tác giả cho biết vào thời Lý - Trần nước ta đã có hai dàn đại nhạc, tiểu nhạc và cả một bản nhạc cổ viết cho dàn nhạc thời ấy mang tên Canh lậu trường(Giọt đồng hồ nước). Điều đó khẳng định lúc này đồng hồ nước đã khá phổ biến chốn cung đình mới có thể đi vào thi ca hát xướng.

Ta hãy nghe âm thanh “Khắc lậu” lần đầu thánh thót âm vang ở Đại Việt qua áng thi ca của danh sĩ Nguyễn Trãi:

Vi sảnh thoái qui hoa ảnh chuyển

Kim môn mộng giác lậu tàn canh(7).

(Khi ở Vi sảnh lui về thì bóng hoa đã chuyển; ở kim môn mộng tỉnh thì tiếng lậu đã tàn canh). Cái hay ở đây là ta thưởng thức được cả âm sắc (tiếng lậu) lẫn diện mạo của thời gian (hình ảnh chiếc đồng hồ nước). Thuật ngữ “Đồng hồ” lại được ghi nhận lần đầu một cách đầy chủ ý trong áng thơ Nôm của Trần Thánh Tông ở cuối thế kỷ XV:

Nước cạn đồng hồ chuyển canh hai

Đêm dài đằng đẵng tựa năm dài (8).

Hãy cùng chiêm ngưỡng đồng hồ nước cổ qua mô tả của các nhà bác học Việt thời trung đại về hai loại đồng hồ nước trong Vân đài loạn ngữ: “Cái đồng hồ gồm có ba từng, tròn và đều có bề kính 1 thước đặt trên cái thùng hứng nước có góc vuông, có cái vòi rồng phun nước vào cái thùng hứng nước, nước chảy xuống dưới một cái cừ đặt ngang, trên nắp có đặt một hình người đầy đủ mũ áo đúc bằng vàng gọi là quan Tư thì (Quan coi về thời khắc), hai tay cầm một cây tên. Đó là phép lậu khắc của Ân Quỳ”. “… Lấy đồng làm một cái ống hút nước tình trạng giống như một cái móc uốn cong dẫn nước chứa đựng cho chảy vào một cái vòi rồng bằng bạc, phun vào cái đồ tưới (quán khí), nước rỉ chảy xuống một thang cân nặng 2 cân thì trải qua một khắc. Đó là phép lậu khắc của Lý Lan” (9). Lê Quý Đôn đã cho hậu thế thấy rõ hai nguyên lý hoạt động của đồng hồ nước thời xa xưa: thời gian được tính theo mực nước hoặc trọng lượng nước thoát ra.

Về sau, người xưa cải tiến làm thành hai bình, một để trên cao, một để dưới thấp có cọc khắc vạch ở giữa bình. Nước từ đáy bình trên nhỏ giọt đều đặn xuống bình dưới. Theo mực nước dâng lên ngập thang vạch trên cọc ở bình dưới để định thời gian. Đồng hồ nước dựa trên nguyên tắc này được cải tiến liên tục theo cả hai nhu cầu: chính xác hơn và mỹ thuật hơn. Đồng hồ nước nhanh chóng lan truyền khắp các nước châu Á, Đại Việt, Hàn Quốc, Nhật Bản… Đồng hồ nước ở Hàn Quốc được gọi là Changongnu được chế tạo bởi nghệ nhân Chang Yong Sil và đồng sự vào năm 1434. Nó được cải tiến nhiều dưới triều đại vua Chung Jong (1506 - 1544). Theo đó tùy theo mực nước rút mà gõ nên những tiếng chuông, tiếng trống hoặc tiếng cồng chiêng. Mẫu phục chế loại đồng hồ nước này hiện còn được trưng bày tại viện bảo tàng Dân tộc học ở thủ đô Seoul Hàn Quốc là cơ may hiếm có giúp chúng ta cơ sở mường tượng lại báu vật xưa.

Chính sử, dã sử, thi ca và ca dao Đại Việt còn ghi lại việc sử dụng đồng hồ nước qua các triều đại phong kiến ở nước ta. Đồng hồ nước đã có mặt vào nửa sau thế kỷ XVIII trong vương phủ chúa Trịnh bên bờ hồ Tả Vọng “… Bên thềm Nghị chính đường có chiếc đồng hồ nước đúc hình con rồng bằng đồng thau, chốc chốc lại rỏ nước xuống chiếc chậu đồng sáng loáng phát ra tiếng kêu tong tong” (3). Vào năm 1722, có lần chúa Trịnh Cương, một ông chúa anh minh tận tụy với triều theo đồng hồ nước. “… Giọt lậu chỉ canh 5, chúa triệu mời Nguyễn Quý Đức đến luận việc” (10). Việc sử dụng loại dụng cụ đo thời gian này ở Đại Việt còn được mô tả rõ ràng và sinh động về loại đồng hồ nước đi đường của nhà chúa rất lạ lẫm trong con mắt chúng ta ngày nay. Trong tập du ký kỳ thú nổi tiếng của nhà du hành lừng danh người Thụy Sĩ Jăng Bapstis Tavernier, ông cho biết: “… Một viên quan xách một bình đầy nước, trên đó có một chén bằng đồng nổi trên mặt nước, chén có lỗ thủng ở đáy vừa đủ to để trong đúng một giờ thì chén đầy nước và chìm xuống đáy. Hai viên quan khác lúc đó liền gõ kẻng báo giờ vào hai tấm kim loại, có đường kính chừng hai bộ, dáng trông như gương lõm của chúng ta, làm bằng kim loại giống như chuông ở ta: tiếng vang nghe rất xa (chiếc chiêng - TG). Khi đó người xách bình nước lấy cái chén đang chìm ra, lại thả một chén không có nước lên mặt nước như lúc đầu. Khi chén đầy nước và chìm thì lại gõ chiêng. Bằng cách đó, người ta ghi thời gian, giờ ở xứ Đàng Ngoài”.

Hệ thống báo giờ trong kinh thành Tonkin (Thăng Long - TG) thế kỷ XVII cũng dựa trên cơ sở sử dụng kỹ thuật đồng hồ nước. Nhà thám hiểm nổi tiếng châu Âu J.B Tavernier từng đến Đại Việt năm 1637 cho biết một cách thú vị và chính xác rằng: “… Tất cả các vị chúa đều có 8 ông quan làm chức vụ đó, và cũng là người canh gác cổng Kinh thành. Thông thường ở cổng vào thành, cạnh buồng ở của quan gác cổng, có treo tấm kim loại lớn để gõ kẻng báo giờ, có bình nước và chén đồng hồ báo giờ để theo dõi gõ kẻng… Ở đó, người ta chia ngày và đêm thành 24 giờ như chúng ta, ngày có 12 giờ và đêm có 12 giờ để chia đều thời gian lao động và thời gian nghỉ ngơi. Họ lại chia mỗi ngày, mỗi đêm thành 4 phần bằng nhau và mỗi phần đó đánh một tiếng kẻng. Thí dụ giờ đầu của phần đầu của ban đêm đánh một tiếng kẻng, giờ thứ hai đánh một tiếng kẻng nữa, giờ thư ba lại đánh một tiếng. Đến phần thứ hai của đêm thì giờ đầu đánh 2 tiếng, các giờ sau đều 2 tiếng kẻng. Phần thứ 3 của đêm thì mỗi giờ đánh 3 tiếng kẻng. Phần thư 4 cũng cứ thế mỗi giờ đánh 4 tiếng kẻng. Rồi lại bắt đầu giờ thứ nhất của ban ngày với độ kế tục đều đặn như thế”.

Tiếng trống, tiếng chiêng cầm canh điểm giờ dường như đã ăn sâu vào mỗi ký ức Việt:

Canh chày đèn hạnh lâm dâm

Xao xác lậu canh trống điểm năm (8)

Bóng dáng đồng hồ nước vẫn còn ẩn hiện đâu đó “Tonquin” nên năm 1908 - 1909 Henri Oger còn kịp ký họa lưu lại chân dung đồng hồ nước trong bộ sách Kỹ thuật của người An Nammột tư liệu vô cùng quý giá mà ông gọi là bộ “Bách khoa thư về những dụng cụ, đồ nghề nghiệp của người Bắc bộ”.

Sau ngót 2.000 năm ngự trị, đồng hồ nước dần bị thay thế vào thời Minh (1368 - 1644) bởi đồng hồ cơ khí. Đồng hồ cơ khí xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1276 đời Nguyên. Đó là phát minh vĩ đại của nhà thiên văn Quách Thủ Kính, chiếc đồng hồ dùng cơ học báo giờ bằng tiếng chuông đặt ở điện Đại Minh khu Hoàng thành. Thiết tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng, phải chờ thêm gần 400 năm sau, kỹ thuật công nghệ chế tạo đồng hồ báo chuông mới xuất hiện ở châu Âu để rồi lan truyền và ngự trị thế giới vào những thế kỷ sau. Sự ra đời của kỹ nghệ đồng hồ cơ khí cũng là lời cáo chung cho công nghệ đồng hồ nước trên lục địa châu Á.

Hầu như “bóng dáng” nó đã chấm dứt hoàn toàn vào thế kỷ XIX và chỉ còn là một kỷ niệm đẹp trong lịch sử khoa học công nghệ của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng.

Henri Oger đã lưu truyền cho hậu thế một hình ảnh thú vị khác về đồng hồ cơ khí ở Việt Nam: quầy sửa chữa “Chung biểu” khai trương tại Hà Nội năm 1908, chứng tỏ thời kỳ này đồng hồ cơ khí điểm chuông đã khá phổ biến. Âm thanh tích tắc của đồng hồ kim bắt đầu ngự trị và lan tỏa trong toàn xã hội. Và nhà thờ Tản Đà cũng đã không thể bỏ qua cái âm thanh lạ tai ấy trong thi phẩm của mình:

Ngó trên án đèn xanh hiu hắt

Nghe tiếng kim… ký cách giục giờ

Tuy nhiên, xuyên suốt không gian lịch sử Việt Nam, bởi không mất bất kỳ một khoản chi phí nào nên đồng hồ mặt trời vẫn là phương tiện “xem giờ” dân dã và phổ biến nhất trong toàn thể cộng đòng Việt. Ở nông thôn, cư dân vẫn theo bóng nắng vàng óng ảnh trên những “cây sào, ngọn tre” mà tiến hành công việc thường nhật của mình. Ngay cả tầng lớp quý tộc cũng không bỏ qua phương pháp truyền thống ấy cho dù đã có trong tay những chiếc đồng hồ Tự minh chung “ngoại nhập” đắt đỏ và tối tân nhất thời bấy giờ. Quốc sư, Quốc lão, Viện quận công Nguyễn Hoãn người La Khê xứ Thanh Hoa đỗ tiến sĩ năm 1744 từng dùng đồng hồ mặt trời để luyện phép tu tiên. Trong Nguyễn gia thế đức phổdòng danh nhân La sơn phu tử Nguyễn Thiếp còn lưu lại sự kiện này trong mục “Tiên khảo đạo lục” vì ông chính là người được Quốc sư, Quốc lão mời lại kinh chỉ dẫn. “… Xây tháp 12 tầng để làm chỗ hấp bóng mặt trời, mặt trăng. Trên tháp có cắm cờ lụa (đo bóng nắng) để xem giờ. Trên lầu theo đồng hồ Hòa Lan, 12 giờ đều có tiếng điêu đẩu tự nhiên đánh. Theo giờ đó mà luyện kí, luyện thân, giáng long, phục hổ”. Tuy nhiên trong thời đại trung đại, dù là đồng hồ nước, rồi đồng hồ cơ khí điểm chuông thường chỉ tồn tại ở nơi quyền quý chốn cung đình còn dân dã vẫn “xem” giờ theo cách riêng của mình rẻ tiền và luôn có ở mọi nơi: Bóng nắng, tiếng gà gáy, tiếng chuông chùa, tiếng trống cầm canh… Tiếng gà gáy dân gian mệnh danh là đồng hồ cạn, còn được người xưa gọi bằng cái tên rất mực hoa mỹ “Trường minh kê” từng là đồ tiếng cống vua Thành Đế (32 - 8).

Đến đời Minh Mạng, đồng hồ mặt trời (Nhật quỹ) vẫn còn là một trong hai dụng cụ xác định thời gian chính để tính lịch tại Khâm thiên giám Huế (17). Đồng hồ mặt trời còn đeo đuổi nền văn minh Việt tới đầu thế kỷ XX. Năm 1882, tỉnh Bạc Liêu được thành lập, nhà Bác vật Lưu Văn Lang (1880 - 1969) quê miệt Gò Công Tiền Giang đã chế tạo chiếc đồng hồ Thái dương (mặt trời) rất đặc biệt tặng quan tham biện. Chiếc đồng hồ Thái dương này theo truyền khẩu được xây bằng gạch Tàu, vữa tam hợp theo lối cổ truyền: Mật ong, vôi, bột vỏ sò. Nó cao 1 thước, bề ngang 8 tấc, tọa lạc ngay trước sân cửa ra vào dinh tham biện. Trên bề mặt phẳng ngang được chia vạch đánh số La Mã chỉ giờ. Khi bình minh lên, “bóng nắng” đậu đúng vạch số 7, trưa đứng bóng chỉ số 12, nắng chiều nhạt dần, bóng hoàng hôn đậu trên bậc tam cấp của đồng hồ Thái Dương. Có lẽ vì lòng tự tôn dân tộc và kính trọng nhà Bác vật một cách thái quá mà dân gian truyền ngôn rằng: “… Đương thời, không chỉ những ông thông, ông phán, ông huyện ghé xem giờ trước khi vào trình giấy mà nghe đâu cả ông quan ba, quan năm đôi lúc cũng ghé xem để… vặn kim (chỉnh) đồng hồ đeo tay của mình cho chuẩn”. Đó có thể coi là chiếc đồng hồ mặt trời duy nhất còn tồn tại đến ngày nay, những dấu vết vật thể cuối cùng của nền văn minh kỹ thuật Việt thời phong kiến. Thậm chí ở ngay thế kỷ XXI này, cách xem thời gian theo mặt trời vẫn còn được lưu truyền, sử dụng ở những vùng nông thôn, vùng đảo biển hoang vắng, nơi sơn cùng thủy tận như một món “quà vĩnh cửu” của bà mẹ thiên nhiên gởi tặng, tô đẹp cho vẻ dân dã đời thường.

Đồng hồ cát đã có mặt ở xứ Đàng Trong để “cứu hộ mặt trăng lúc nguyệt thực” vào năm 1620 - 1621 khi cha C. Borri cho biết “khoảng 11 giờ (xem đồng hồ cát) vành mặt trăng bắt đầu đen, tất nhiên là đã bắt đầu nguyệt thực và mặt trăng dần dần “bị ăn”. Lúc ấy mới được nổi chuông, trống rầm lên để cứu hộ mặt trăng” (14). Đồng hồ cát còn được cơ quan khí tượng triều Minh Mạng sử dụng cùng với Nhật quỹ để tính toán khí tượng tại kinh đô và các tỉnh trong nước (17).

Đồng hồ Đại Việt - Đi vạn dặm “tầm sư học đạo”

Thế kỷ XVII đánh dấu cho sự ra đời của “Tự minh chung” ở Đại Việt, đó là loại đồng hồ cơ học tự động đánh chuông theo giờ. Ban đầu “Tự minh chung” là những vị “sứ giả” ngoại giao theo chân các giáo sĩ vào Đại Việt. Đó là những món quà đặt biệt quí giá dành tặng cho chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Loại đồng hồ này có nhiều tên gọi khác nhau: Thần biểu; Kế thì chung; Chung biểu.

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, từng dâng tặng đồng hồ Tự minh chung cho chúa Trịnh Tráng “… Vừa thấy tôi, chúa liền cho tôi xuống thuyền ngài, rồi ngài đem đồng hồ có bánh xe và đồng hồ cát tôi đã dâng ngài trước đây khi ngài vào Đàng Trong. Ngài hỏi chúng tôi xem dùng đồng hồ thế nào vì chưa bao giờ ngài thấy… Tôi liền vặn đồng hồ cát và nói với chúa rằng khi cát trong ngăn rơi hết xuống dưới thì chuông đồng hồ đánh một giờ khác” (4). Với câu chuyện này, có thể ghi nhận năm 1627 chính là thời điểm chiếc đồng hồ Tây dương đầu tiên du nhập vào quốc gia Đại Việt.

Hơn một thế kỷ sau, ta lại có một tư liệu khác về “Một chiếc đồng hồ Tây dương kê trên chiếc kỷ ở gian giữa” tại tư dinh Lê Hữu Kiều, một trọng thần thời Lê Trịnh. Chiếc đồng hồ này do người cùng xã Liễu Xá (quê Lê Hữu Kiều) thường đi theo tàu buôn Bồ Đào Nha sang Hà Lan mua về biếu tặng (3). Đồng hồ Tây cũng được ghi nhận như vật trang trí nội thất tại tòa Nghị chính đường - Vương phủ Trịnh thời chúa Trịnh Doanh (1740 - 1767): “… Ở tường lại có chiếc đồng hồ Hà Lan đều kêu tích tắc, tích tắc” (3).

Biên niên sử Việtghi nhận sự kiện đánh dấu sự hiện diện chính thức của loại đồng hồ Tây dương tại các cơ quan công quyền Đại Việt từ nửa đầu thế kỷ XVIII.

“… Năm Long Đức thứ 2 (1733) cho đặt đồng hồ chế tạo kiểu Tây dương ở các dinh, các cửa biển Đàng Trong”. Điều này cho phép chúng ta ngoại suy rằng lúc này đồng hồ cơ khí đã khá phổ biến và rất có thể được chế tạo tại chỗ bởi dòng họ nghệ nhân Nguyễn Văn Giu.

Năm 1774, chúa Trịnh Sâm cử đại binh chinh phat phương Nam thu phục giang sơn về một mối, thống nhất Đại Việt sau 147 năm chia cắt. Lê Quí Đôn đã được cử vào giữ chức Tham tri quân vụ kiêm lãnh chức Hiệp chấn Thuận Hóa. Tại đây ông từng gặp người Tây dương Từ Tâm Bá đã ở Phú Xuân 30 năm và làm việc tại nội viện Toà Thiên văn cho các chúa Nguyễn. Từ Tâm Bá rất giỏi về việc làm đồng hồ, đã từng được chúa Nguyễn giao cho chế tạo đồng hồ kiểu Tây dương nhưng công việc vẫn dở dang sau mấy năm loay hoay lần lữa. Lê Quí Đôn còn đến thăm gia đình nghệ nhân đồng hồ Tây dương đầu tiên và duy nhất ở Đại Việt - ông Nguyễn Văn Giu (có tài liệu đề Nguyễn Văn Tú) con trai viên thủ hợp thời chúa Nguyễn. Khi ấy ông Giu đã 74 tuổi song nhãn lực vẫn y như còn trẻ. Những dòng sử liệu quí báu của Lê Quí Đôn cho biết “Nguyễn Văn Giu quê ở xã Đại Hào, huyện Đăng Xương, ông sinh vào những năm đầu thế kỷ XVIII (khoảng 1702 - TG). Thuở thiếu thời ông được sang Hà Lan lưu học”. Rất tiếc sử liệu không cho chúng ta biết chi tiết về việc lưu học nghề dầu tiên của người Việt ở phương Tây như thế nào. Chỉ biết sau 2 năm “tầm sư học đạo” ông đã rành rẽ công nghệ chế tác đồng hồ cơ khí “Tự minh chung” phức tạp, tiên tiến của phương Tây. Không chỉ học làm và chữa đồng hồ, Nguyễn Văn Giu còn chế tạo được cả “Thiên lý kinh” là ống nhòm nhìn xa nghìn dặm rất tinh xảo. Về nước ông đã truyền nghề cho em trai là Nguyễn Văn Thi, con là Nguyễn Văn Duy và con rể là Lê Văn Dũng. Nhiều khả năng ông đã lập nên xưởng chế tác đồng hồ gia đình và tác tạo một số loại đồng hồ cơ khi tinh xảo một mình rất khó thực hiện một cách nhanh chóng.

Chúa Nguyễn đã triệu ông vào Phú Xuân và giao cho làm tiếp chiếc đồng hồ mà Từ Tâm Bá còn bỏ dang dở. Thật đáng khâm phục “ông chỉ làm trong mười ngày là xong đồng hồ” (1). Đó là chiếc đồng hồ kiểu Tây phương đầu tiên được người Việt Nam chế tạo trong thời Lê Trịnh, là niềm tự hào của nền kỹ nghệ Đại Việt thời phong kiến vào cuối thế kỷ XVIII. Chi tiết chiếc đồng hồ đó đã được mô tả trong Phủ biên tạp lục(Q. 6): “… Chiếc đồng hồ chế như hình “Phật đình”, bên trong có một vành tròn, mà chung quanh được khắc 12 giờ. Bên ngoài vành, được vạch 96 khắc tất cả. Ở chính giữa phiến đồng tròn, người ta đặt 2 cái kim: 1 kim ở trong bằng vàng để chỉ giờ thì lớn mà ngắn, 1 kim ở ngoài cũng bằng vàng để chỉ phân khắc thì nhỏ mà dài. Lúc máy chạy, thì các răng cưa cùng xát cọ và ăn khớp với nhau. Phía trên có một cái chuông lớn, sáu cái chuông nhỏ. Hai mặt phía sau và ở bên hữu (bên phải) đồng hồ đều được che đậy bằng một miếng kính thủy tinh. Còn hai mặt ở bên tả (bên trái) và ở phía trước thì có một cái cửa lớn để mở ra và đóng lại để xem xét máy móc”. Người nghệ nhân Đại Việt còn chế thêm hai chiếc bánh xe đồng có cửa sổ thông với bên ngoài, bên phải có 30 miếng đồng khắc số từ 1 đến 30 ngày. Hễ ngày nào thì hai bên đồng hồ rõ chữ ghi đúng ngày ấy. Đó là chiếc đồng hồ lịch đầu tiên chế tạo ở Việt Nam. Sau thời Nguyễn Văn Giu, nghề chế tác đồng hồ Tây phương bị mai một và sang thế kỷ XIX không thấy nói đến nữa kể cả những hậu duệ của ông cũng không có người nối nghiệp. Năm 1840, từng có lệnh của nhà nước xem xét duy trì thợ đồng hồ ở các tỉnh phía Bắc “… thợ đồng hồ, thợ đồi mồi thường cần dùng, thì sẽ vẫn được lưu ngạch” ( Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, Q.220). Điều đó cho thấy vật dụng này đã khá phổ biến trong xã hội và đội ngũ thợ đồng hồ dần phát triển khắp trong nước Việt. Tuy nhiên đó chỉ là loại thợ sữa chữa, bảo trì, còn thợ giỏi có khả năng sáng tạo, chế tác như Nguyễn Văn Giu không còn ai nữa. Đó là một “thông điệp nghiệt ngã” mà lịch sử giử lại cảnh tỉnh các nhà hoạch định chính sách và quản lý hôm nay: Hãy biết trân trọng, nâng niu chất xám công nghệ mà người Việt Nam đã làm được, hãy vun trồng hỗ trợ cho nó phát triển để đâm hoa kết trái cho đời!

Công nghệ chế tác đồng hồ “Tự minh chung” thất truyền từ đây để rồi ngày nôm nay, đã sang thế kỷ XXI, người Việt Nam lại phải nhập khẩu đồng hồ mà quên mất rằng đã có một thời, đã có một người Đại Việt tên Nguyễn Văn Giu từng lặn lội vượt vạn dặm đường học hỏi mang về cái công nghệ quý giá đó. Nay nó không còn nữa, tiếc thay.

Tài liệu tham khảo:

1/ Lê Quý Đôn - Phủ biên tạp lục, UB dịch thuật Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xb, 1973.

2/ Ngọc Phương - Kể chuyện văn hóa truyền thống Trung Quốc, Nxb Thế giới, 2003.

3/ Bùi Hạnh Cẩn - Lê Quí Đôn, Nxb Văn hóa, 1995.

4/ Alexandre de Rhodes - Histoire du Royaume de Tunquin, 1624.

5/ Jean Baptiste Tvernier - Relation nouvelle it singuliere du Royaume de Tunquin, Paris, 1681.

6/ Nguyễn Dữ - Khơi lại dòng xưa, Nxb Lao động, 2007.

7/ Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb KHXH, 1976.

8/ Hồng Đức quốc âm thi tập, Nxb VH, 1982.

9/ Lê Quí Đôn - Vân Đài loại ngữ, T.I, III, Nxb VH-TT, 1995.

10/ Nội các quan bản - Đại Việt sử ký toàn thư, tục biên, Chính Hòa 1697, Nxb KHXH, 1994.

11/ Dấu xưa Nam bộ - Nxb Văn nghệ, 2006.

12/ Tranh ký họa Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nxb Trẻ, 1988.

13/ Việt Nam giáo sử, Nxb Cứu thế Tùng thư Sài Gòn, 1965.

14/ Cristophpro Borri - Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb TP. HCM, 1998.

15/ Việt Nam những sự kiện từ khởi thủy tới 1858.

16/ Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, Q.220.

17/ Sở KHCN Thừa Thiên - Huế - Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 - 6/2006.

18/ An Nam chí lược.

19/ Kể chuyện về đồ vật, Nxb Lao động, 2006.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.