Sắc diện “Thời gian Việt”
Giọt thời gian Đại Việt
Nhu cầu nhận biết thời gian đã đeo đuổi đời sống con người ngay từ thuở bình minh của văn minh nhân loại. Tuy nhiên ở thời trình độ khoa học kỹ thuật còn sơ khai đã không trợ giúp được gì, buộc người ta phải lợi dụng những hiện tượng thiên nhiên để định lượng thời gian. Lúc đầu, người ta chỉ dựa theo bóng nắng để định thời gian trong ngày. Đồng hồ mặt trời đã ra đời trong bối cảnh như vậy. Lẽ dĩ nhiên, phương pháp đo thời gian này hoàn toàn bị động. Vào những ngày thời tiết xấu, mưa dầm và ban đêm đồng nghĩa với sự “dừng lại của thời gian”. Không chịu bó tay, người xưa chế ra đồng hồ nến hoặc đồng hồ dầu thay thế. Cây nến được khắc chia làm nhiều đoạn đều đặn, khi bờ nến cháy đến đâu, chủ nhân có thể nhận biết khoảng thời gian đã trôi qua.
Chính bởi những hạn chế của phép đo thời gian dựa vào hiện tượng tự nhiên, người xưa đã phát kiến ra một phương pháp đo thời gian khá chính xác, lại đơn giản vào thời Xuân Thu (770 - 476 trước CN) ở Trung Quốc: Chiếc đồng hồ nước (2). Kể từ lúc ra đời, nó tận tụy phục vụ loài người suốt 2.000 năm. Đó cũng là lý do có cái tên “Đồng hồ” mà nghĩa gốc của nó là cái bình đồng đựng nước. Thuật ngữ “Khắc lậu” (nghĩa là chiếc đồng hồ nước) có gốc Hán 100% cho dù ta bắt gặp nó trong cả văn bản Hán lẫn Nôm. Còn “Đồng hồ” hẳn hoi là tên gọi đã được Việt hóa bởi thấy nó xuất hiện trong văn viết chữ Nôm từ giữa thế kỷ XV và chữ Quốc ngữ vào khoảng đầu thế kỷ XX. Văn bản tư liệu sớm nhất về loại đồng hồ nước ở Đại Việt được tìm thấy trong An Nam chí lượccủa Lê Tắc (sách viết trong thế kỷ XIII). Tác giả cho biết vào thời Lý - Trần nước ta đã có hai dàn đại nhạc, tiểu nhạc và cả một bản nhạc cổ viết cho dàn nhạc thời ấy mang tên Canh lậu trường(Giọt đồng hồ nước). Điều đó khẳng định lúc này đồng hồ nước đã khá phổ biến chốn cung đình mới có thể đi vào thi ca hát xướng.
Ta hãy nghe âm thanh “Khắc lậu” lần đầu thánh thót âm vang ở Đại Việt qua áng thi ca của danh sĩ Nguyễn Trãi:
Vi sảnh thoái qui hoa ảnh chuyển
Kim môn mộng giác lậu tàn canh(7).
(Khi ở Vi sảnh lui về thì bóng hoa đã chuyển; ở kim môn mộng tỉnh thì tiếng lậu đã tàn canh). Cái hay ở đây là ta thưởng thức được cả âm sắc (tiếng lậu) lẫn diện mạo của thời gian (hình ảnh chiếc đồng hồ nước). Thuật ngữ “Đồng hồ” lại được ghi nhận lần đầu một cách đầy chủ ý trong áng thơ Nôm của Trần Thánh Tông ở cuối thế kỷ XV:
Nước cạn đồng hồ chuyển canh hai
Đêm dài đằng đẵng tựa năm dài (8).
Hãy cùng chiêm ngưỡng đồng hồ nước cổ qua mô tả của các nhà bác học Việt thời trung đại về hai loại đồng hồ nước trong Vân đài loạn ngữ: “Cái đồng hồ gồm có ba từng, tròn và đều có bề kính 1 thước đặt trên cái thùng hứng nước có góc vuông, có cái vòi rồng phun nước vào cái thùng hứng nước, nước chảy xuống dưới một cái cừ đặt ngang, trên nắp có đặt một hình người đầy đủ mũ áo đúc bằng vàng gọi là quan Tư thì (Quan coi về thời khắc), hai tay cầm một cây tên. Đó là phép lậu khắc của Ân Quỳ”. “… Lấy đồng làm một cái ống hút nước tình trạng giống như một cái móc uốn cong dẫn nước chứa đựng cho chảy vào một cái vòi rồng bằng bạc, phun vào cái đồ tưới (quán khí), nước rỉ chảy xuống một thang cân nặng 2 cân thì trải qua một khắc. Đó là phép lậu khắc của Lý Lan” (9). Lê Quý Đôn đã cho hậu thế thấy rõ hai nguyên lý hoạt động của đồng hồ nước thời xa xưa: thời gian được tính theo mực nước hoặc trọng lượng nước thoát ra.
Về sau, người xưa cải tiến làm thành hai bình, một để trên cao, một để dưới thấp có cọc khắc vạch ở giữa bình. Nước từ đáy bình trên nhỏ giọt đều đặn xuống bình dưới. Theo mực nước dâng lên ngập thang vạch trên cọc ở bình dưới để định thời gian. Đồng hồ nước dựa trên nguyên tắc này được cải tiến liên tục theo cả hai nhu cầu: chính xác hơn và mỹ thuật hơn. Đồng hồ nước nhanh chóng lan truyền khắp các nước châu Á, Đại Việt, Hàn Quốc, Nhật Bản… Đồng hồ nước ở Hàn Quốc được gọi là Changongnu được chế tạo bởi nghệ nhân Chang Yong Sil và đồng sự vào năm 1434. Nó được cải tiến nhiều dưới triều đại vua Chung Jong (1506 - 1544). Theo đó tùy theo mực nước rút mà gõ nên những tiếng chuông, tiếng trống hoặc tiếng cồng chiêng. Mẫu phục chế loại đồng hồ nước này hiện còn được trưng bày tại viện bảo tàng Dân tộc học ở thủ đô Seoul Hàn Quốc là cơ may hiếm có giúp chúng ta cơ sở mường tượng lại báu vật xưa.
![]() |
Chính sử, dã sử, thi ca và ca dao Đại Việt còn ghi lại việc sử dụng đồng hồ nước qua các triều đại phong kiến ở nước ta. Đồng hồ nước đã có mặt vào nửa sau thế kỷ XVIII trong vương phủ chúa Trịnh bên bờ hồ Tả Vọng “… Bên thềm Nghị chính đường có chiếc đồng hồ nước đúc hình con rồng bằng đồng thau, chốc chốc lại rỏ nước xuống chiếc chậu đồng sáng loáng phát ra tiếng kêu tong tong” (3). Vào năm 1722, có lần chúa Trịnh Cương, một ông chúa anh minh tận tụy với triều theo đồng hồ nước. “… Giọt lậu chỉ canh 5, chúa triệu mời Nguyễn Quý Đức đến luận việc” (10). Việc sử dụng loại dụng cụ đo thời gian này ở Đại Việt còn được mô tả rõ ràng và sinh động về loại đồng hồ nước đi đường của nhà chúa rất lạ lẫm trong con mắt chúng ta ngày nay. Trong tập du ký kỳ thú nổi tiếng của nhà du hành lừng danh người Thụy Sĩ Jăng Bapstis Tavernier, ông cho biết: “… Một viên quan xách một bình đầy nước, trên đó có một chén bằng đồng nổi trên mặt nước, chén có lỗ thủng ở đáy vừa đủ to để trong đúng một giờ thì chén đầy nước và chìm xuống đáy. Hai viên quan khác lúc đó liền gõ kẻng báo giờ vào hai tấm kim loại, có đường kính chừng hai bộ, dáng trông như gương lõm của chúng ta, làm bằng kim loại giống như chuông ở ta: tiếng vang nghe rất xa (chiếc chiêng - TG). Khi đó người xách bình nước lấy cái chén đang chìm ra, lại thả một chén không có nước lên mặt nước như lúc đầu. Khi chén đầy nước và chìm thì lại gõ chiêng. Bằng cách đó, người ta ghi thời gian, giờ ở xứ Đàng Ngoài”.
Hệ thống báo giờ trong kinh thành Tonkin (Thăng Long - TG) thế kỷ XVII cũng dựa trên cơ sở sử dụng kỹ thuật đồng hồ nước. Nhà thám hiểm nổi tiếng châu Âu J.B Tavernier từng đến Đại Việt năm 1637 cho biết một cách thú vị và chính xác rằng: “… Tất cả các vị chúa đều có 8 ông quan làm chức vụ đó, và cũng là người canh gác cổng Kinh thành. Thông thường ở cổng vào thành, cạnh buồng ở của quan gác cổng, có treo tấm kim loại lớn để gõ kẻng báo giờ, có bình nước và chén đồng hồ báo giờ để theo dõi gõ kẻng… Ở đó, người ta chia ngày và đêm thành 24 giờ như chúng ta, ngày có 12 giờ và đêm có 12 giờ để chia đều thời gian lao động và thời gian nghỉ ngơi. Họ lại chia mỗi ngày, mỗi đêm thành 4 phần bằng nhau và mỗi phần đó đánh một tiếng kẻng. Thí dụ giờ đầu của phần đầu của ban đêm đánh một tiếng kẻng, giờ thứ hai đánh một tiếng kẻng nữa, giờ thư ba lại đánh một tiếng. Đến phần thứ hai của đêm thì giờ đầu đánh 2 tiếng, các giờ sau đều 2 tiếng kẻng. Phần thứ 3 của đêm thì mỗi giờ đánh 3 tiếng kẻng. Phần thư 4 cũng cứ thế mỗi giờ đánh 4 tiếng kẻng. Rồi lại bắt đầu giờ thứ nhất của ban ngày với độ kế tục đều đặn như thế”.
Tiếng trống, tiếng chiêng cầm canh điểm giờ dường như đã ăn sâu vào mỗi ký ức Việt:
Canh chày đèn hạnh lâm dâm
Xao xác lậu canh trống điểm năm (8)
Bóng dáng đồng hồ nước vẫn còn ẩn hiện đâu đó “Tonquin” nên năm 1908 - 1909 Henri Oger còn kịp ký họa lưu lại chân dung đồng hồ nước trong bộ sách Kỹ thuật của người An Nammột tư liệu vô cùng quý giá mà ông gọi là bộ “Bách khoa thư về những dụng cụ, đồ nghề nghiệp của người Bắc bộ”.
Sau ngót 2.000 năm ngự trị, đồng hồ nước dần bị thay thế vào thời Minh (1368 - 1644) bởi đồng hồ cơ khí. Đồng hồ cơ khí xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1276 đời Nguyên. Đó là phát minh vĩ đại của nhà thiên văn Quách Thủ Kính, chiếc đồng hồ dùng cơ học báo giờ bằng tiếng chuông đặt ở điện Đại Minh khu Hoàng thành. Thiết tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng, phải chờ thêm gần 400 năm sau, kỹ thuật công nghệ chế tạo đồng hồ báo chuông mới xuất hiện ở châu Âu để rồi lan truyền và ngự trị thế giới vào những thế kỷ sau. Sự ra đời của kỹ nghệ đồng hồ cơ khí cũng là lời cáo chung cho công nghệ đồng hồ nước trên lục địa châu Á.
Hầu như “bóng dáng” nó đã chấm dứt hoàn toàn vào thế kỷ XIX và chỉ còn là một kỷ niệm đẹp trong lịch sử khoa học công nghệ của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng.
Henri Oger đã lưu truyền cho hậu thế một hình ảnh thú vị khác về đồng hồ cơ khí ở Việt Nam: quầy sửa chữa “Chung biểu” khai trương tại Hà Nội năm 1908, chứng tỏ thời kỳ này đồng hồ cơ khí điểm chuông đã khá phổ biến. Âm thanh tích tắc của đồng hồ kim bắt đầu ngự trị và lan tỏa trong toàn xã hội. Và nhà thờ Tản Đà cũng đã không thể bỏ qua cái âm thanh lạ tai ấy trong thi phẩm của mình:
Ngó trên án đèn xanh hiu hắt
Nghe tiếng kim… ký cách giục giờ
Tuy nhiên, xuyên suốt không gian lịch sử Việt Nam, bởi không mất bất kỳ một khoản chi phí nào nên đồng hồ mặt trời vẫn là phương tiện “xem giờ” dân dã và phổ biến nhất trong toàn thể cộng đòng Việt. Ở nông thôn, cư dân vẫn theo bóng nắng vàng óng ảnh trên những “cây sào, ngọn tre” mà tiến hành công việc thường nhật của mình. Ngay cả tầng lớp quý tộc cũng không bỏ qua phương pháp truyền thống ấy cho dù đã có trong tay những chiếc đồng hồ Tự minh chung “ngoại nhập” đắt đỏ và tối tân nhất thời bấy giờ. Quốc sư, Quốc lão, Viện quận công Nguyễn Hoãn người La Khê xứ Thanh Hoa đỗ tiến sĩ năm 1744 từng dùng đồng hồ mặt trời để luyện phép tu tiên. Trong Nguyễn gia thế đức phổdòng danh nhân La sơn phu tử Nguyễn Thiếp còn lưu lại sự kiện này trong mục “Tiên khảo đạo lục” vì ông chính là người được Quốc sư, Quốc lão mời lại kinh chỉ dẫn. “… Xây tháp 12 tầng để làm chỗ hấp bóng mặt trời, mặt trăng. Trên tháp có cắm cờ lụa (đo bóng nắng) để xem giờ. Trên lầu theo đồng hồ Hòa Lan, 12 giờ đều có tiếng điêu đẩu tự nhiên đánh. Theo giờ đó mà luyện kí, luyện thân, giáng long, phục hổ”. Tuy nhiên trong thời đại trung đại, dù là đồng hồ nước, rồi đồng hồ cơ khí điểm chuông thường chỉ tồn tại ở nơi quyền quý chốn cung đình còn dân dã vẫn “xem” giờ theo cách riêng của mình rẻ tiền và luôn có ở mọi nơi: Bóng nắng, tiếng gà gáy, tiếng chuông chùa, tiếng trống cầm canh… Tiếng gà gáy dân gian mệnh danh là đồng hồ cạn, còn được người xưa gọi bằng cái tên rất mực hoa mỹ “Trường minh kê” từng là đồ tiếng cống vua Thành Đế (32 - 8).
Đến đời Minh Mạng, đồng hồ mặt trời (Nhật quỹ) vẫn còn là một trong hai dụng cụ xác định thời gian chính để tính lịch tại Khâm thiên giám Huế (17). Đồng hồ mặt trời còn đeo đuổi nền văn minh Việt tới đầu thế kỷ XX. Năm 1882, tỉnh Bạc Liêu được thành lập, nhà Bác vật Lưu Văn Lang (1880 - 1969) quê miệt Gò Công Tiền Giang đã chế tạo chiếc đồng hồ Thái dương (mặt trời) rất đặc biệt tặng quan tham biện. Chiếc đồng hồ Thái dương này theo truyền khẩu được xây bằng gạch Tàu, vữa tam hợp theo lối cổ truyền: Mật ong, vôi, bột vỏ sò. Nó cao 1 thước, bề ngang 8 tấc, tọa lạc ngay trước sân cửa ra vào dinh tham biện. Trên bề mặt phẳng ngang được chia vạch đánh số La Mã chỉ giờ. Khi bình minh lên, “bóng nắng” đậu đúng vạch số 7, trưa đứng bóng chỉ số 12, nắng chiều nhạt dần, bóng hoàng hôn đậu trên bậc tam cấp của đồng hồ Thái Dương. Có lẽ vì lòng tự tôn dân tộc và kính trọng nhà Bác vật một cách thái quá mà dân gian truyền ngôn rằng: “… Đương thời, không chỉ những ông thông, ông phán, ông huyện ghé xem giờ trước khi vào trình giấy mà nghe đâu cả ông quan ba, quan năm đôi lúc cũng ghé xem để… vặn kim (chỉnh) đồng hồ đeo tay của mình cho chuẩn”. Đó có thể coi là chiếc đồng hồ mặt trời duy nhất còn tồn tại đến ngày nay, những dấu vết vật thể cuối cùng của nền văn minh kỹ thuật Việt thời phong kiến. Thậm chí ở ngay thế kỷ XXI này, cách xem thời gian theo mặt trời vẫn còn được lưu truyền, sử dụng ở những vùng nông thôn, vùng đảo biển hoang vắng, nơi sơn cùng thủy tận như một món “quà vĩnh cửu” của bà mẹ thiên nhiên gởi tặng, tô đẹp cho vẻ dân dã đời thường.
Đồng hồ cát đã có mặt ở xứ Đàng Trong để “cứu hộ mặt trăng lúc nguyệt thực” vào năm 1620 - 1621 khi cha C. Borri cho biết “khoảng 11 giờ (xem đồng hồ cát) vành mặt trăng bắt đầu đen, tất nhiên là đã bắt đầu nguyệt thực và mặt trăng dần dần “bị ăn”. Lúc ấy mới được nổi chuông, trống rầm lên để cứu hộ mặt trăng” (14). Đồng hồ cát còn được cơ quan khí tượng triều Minh Mạng sử dụng cùng với Nhật quỹ để tính toán khí tượng tại kinh đô và các tỉnh trong nước (17).
Đồng hồ Đại Việt - Đi vạn dặm “tầm sư học đạo”
Thế kỷ XVII đánh dấu cho sự ra đời của “Tự minh chung” ở Đại Việt, đó là loại đồng hồ cơ học tự động đánh chuông theo giờ. Ban đầu “Tự minh chung” là những vị “sứ giả” ngoại giao theo chân các giáo sĩ vào Đại Việt. Đó là những món quà đặt biệt quí giá dành tặng cho chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Loại đồng hồ này có nhiều tên gọi khác nhau: Thần biểu; Kế thì chung; Chung biểu.
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, từng dâng tặng đồng hồ Tự minh chung cho chúa Trịnh Tráng “… Vừa thấy tôi, chúa liền cho tôi xuống thuyền ngài, rồi ngài đem đồng hồ có bánh xe và đồng hồ cát tôi đã dâng ngài trước đây khi ngài vào Đàng Trong. Ngài hỏi chúng tôi xem dùng đồng hồ thế nào vì chưa bao giờ ngài thấy… Tôi liền vặn đồng hồ cát và nói với chúa rằng khi cát trong ngăn rơi hết xuống dưới thì chuông đồng hồ đánh một giờ khác” (4). Với câu chuyện này, có thể ghi nhận năm 1627 chính là thời điểm chiếc đồng hồ Tây dương đầu tiên du nhập vào quốc gia Đại Việt.
Hơn một thế kỷ sau, ta lại có một tư liệu khác về “Một chiếc đồng hồ Tây dương kê trên chiếc kỷ ở gian giữa” tại tư dinh Lê Hữu Kiều, một trọng thần thời Lê Trịnh. Chiếc đồng hồ này do người cùng xã Liễu Xá (quê Lê Hữu Kiều) thường đi theo tàu buôn Bồ Đào Nha sang Hà Lan mua về biếu tặng (3). Đồng hồ Tây cũng được ghi nhận như vật trang trí nội thất tại tòa Nghị chính đường - Vương phủ Trịnh thời chúa Trịnh Doanh (1740 - 1767): “… Ở tường lại có chiếc đồng hồ Hà Lan đều kêu tích tắc, tích tắc” (3).
Biên niên sử Việtghi nhận sự kiện đánh dấu sự hiện diện chính thức của loại đồng hồ Tây dương tại các cơ quan công quyền Đại Việt từ nửa đầu thế kỷ XVIII.
![]() |
“… Năm Long Đức thứ 2 (1733) cho đặt đồng hồ chế tạo kiểu Tây dương ở các dinh, các cửa biển Đàng Trong”. Điều này cho phép chúng ta ngoại suy rằng lúc này đồng hồ cơ khí đã khá phổ biến và rất có thể được chế tạo tại chỗ bởi dòng họ nghệ nhân Nguyễn Văn Giu.
Năm 1774, chúa Trịnh Sâm cử đại binh chinh phat phương Nam thu phục giang sơn về một mối, thống nhất Đại Việt sau 147 năm chia cắt. Lê Quí Đôn đã được cử vào giữ chức Tham tri quân vụ kiêm lãnh chức Hiệp chấn Thuận Hóa. Tại đây ông từng gặp người Tây dương Từ Tâm Bá đã ở Phú Xuân 30 năm và làm việc tại nội viện Toà Thiên văn cho các chúa Nguyễn. Từ Tâm Bá rất giỏi về việc làm đồng hồ, đã từng được chúa Nguyễn giao cho chế tạo đồng hồ kiểu Tây dương nhưng công việc vẫn dở dang sau mấy năm loay hoay lần lữa. Lê Quí Đôn còn đến thăm gia đình nghệ nhân đồng hồ Tây dương đầu tiên và duy nhất ở Đại Việt - ông Nguyễn Văn Giu (có tài liệu đề Nguyễn Văn Tú) con trai viên thủ hợp thời chúa Nguyễn. Khi ấy ông Giu đã 74 tuổi song nhãn lực vẫn y như còn trẻ. Những dòng sử liệu quí báu của Lê Quí Đôn cho biết “Nguyễn Văn Giu quê ở xã Đại Hào, huyện Đăng Xương, ông sinh vào những năm đầu thế kỷ XVIII (khoảng 1702 - TG). Thuở thiếu thời ông được sang Hà Lan lưu học”. Rất tiếc sử liệu không cho chúng ta biết chi tiết về việc lưu học nghề dầu tiên của người Việt ở phương Tây như thế nào. Chỉ biết sau 2 năm “tầm sư học đạo” ông đã rành rẽ công nghệ chế tác đồng hồ cơ khí “Tự minh chung” phức tạp, tiên tiến của phương Tây. Không chỉ học làm và chữa đồng hồ, Nguyễn Văn Giu còn chế tạo được cả “Thiên lý kinh” là ống nhòm nhìn xa nghìn dặm rất tinh xảo. Về nước ông đã truyền nghề cho em trai là Nguyễn Văn Thi, con là Nguyễn Văn Duy và con rể là Lê Văn Dũng. Nhiều khả năng ông đã lập nên xưởng chế tác đồng hồ gia đình và tác tạo một số loại đồng hồ cơ khi tinh xảo một mình rất khó thực hiện một cách nhanh chóng.
Chúa Nguyễn đã triệu ông vào Phú Xuân và giao cho làm tiếp chiếc đồng hồ mà Từ Tâm Bá còn bỏ dang dở. Thật đáng khâm phục “ông chỉ làm trong mười ngày là xong đồng hồ” (1). Đó là chiếc đồng hồ kiểu Tây phương đầu tiên được người Việt Nam chế tạo trong thời Lê Trịnh, là niềm tự hào của nền kỹ nghệ Đại Việt thời phong kiến vào cuối thế kỷ XVIII. Chi tiết chiếc đồng hồ đó đã được mô tả trong Phủ biên tạp lục(Q. 6): “… Chiếc đồng hồ chế như hình “Phật đình”, bên trong có một vành tròn, mà chung quanh được khắc 12 giờ. Bên ngoài vành, được vạch 96 khắc tất cả. Ở chính giữa phiến đồng tròn, người ta đặt 2 cái kim: 1 kim ở trong bằng vàng để chỉ giờ thì lớn mà ngắn, 1 kim ở ngoài cũng bằng vàng để chỉ phân khắc thì nhỏ mà dài. Lúc máy chạy, thì các răng cưa cùng xát cọ và ăn khớp với nhau. Phía trên có một cái chuông lớn, sáu cái chuông nhỏ. Hai mặt phía sau và ở bên hữu (bên phải) đồng hồ đều được che đậy bằng một miếng kính thủy tinh. Còn hai mặt ở bên tả (bên trái) và ở phía trước thì có một cái cửa lớn để mở ra và đóng lại để xem xét máy móc”. Người nghệ nhân Đại Việt còn chế thêm hai chiếc bánh xe đồng có cửa sổ thông với bên ngoài, bên phải có 30 miếng đồng khắc số từ 1 đến 30 ngày. Hễ ngày nào thì hai bên đồng hồ rõ chữ ghi đúng ngày ấy. Đó là chiếc đồng hồ lịch đầu tiên chế tạo ở Việt Nam. Sau thời Nguyễn Văn Giu, nghề chế tác đồng hồ Tây phương bị mai một và sang thế kỷ XIX không thấy nói đến nữa kể cả những hậu duệ của ông cũng không có người nối nghiệp. Năm 1840, từng có lệnh của nhà nước xem xét duy trì thợ đồng hồ ở các tỉnh phía Bắc “… thợ đồng hồ, thợ đồi mồi thường cần dùng, thì sẽ vẫn được lưu ngạch” ( Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, Q.220). Điều đó cho thấy vật dụng này đã khá phổ biến trong xã hội và đội ngũ thợ đồng hồ dần phát triển khắp trong nước Việt. Tuy nhiên đó chỉ là loại thợ sữa chữa, bảo trì, còn thợ giỏi có khả năng sáng tạo, chế tác như Nguyễn Văn Giu không còn ai nữa. Đó là một “thông điệp nghiệt ngã” mà lịch sử giử lại cảnh tỉnh các nhà hoạch định chính sách và quản lý hôm nay: Hãy biết trân trọng, nâng niu chất xám công nghệ mà người Việt Nam đã làm được, hãy vun trồng hỗ trợ cho nó phát triển để đâm hoa kết trái cho đời!
Công nghệ chế tác đồng hồ “Tự minh chung” thất truyền từ đây để rồi ngày nôm nay, đã sang thế kỷ XXI, người Việt Nam lại phải nhập khẩu đồng hồ mà quên mất rằng đã có một thời, đã có một người Đại Việt tên Nguyễn Văn Giu từng lặn lội vượt vạn dặm đường học hỏi mang về cái công nghệ quý giá đó. Nay nó không còn nữa, tiếc thay.
Tài liệu tham khảo:
1/ Lê Quý Đôn - Phủ biên tạp lục, UB dịch thuật Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xb, 1973.
2/ Ngọc Phương - Kể chuyện văn hóa truyền thống Trung Quốc, Nxb Thế giới, 2003.
3/ Bùi Hạnh Cẩn - Lê Quí Đôn, Nxb Văn hóa, 1995.
4/ Alexandre de Rhodes - Histoire du Royaume de Tunquin, 1624.
5/ Jean Baptiste Tvernier - Relation nouvelle it singuliere du Royaume de Tunquin, Paris, 1681.
6/ Nguyễn Dữ - Khơi lại dòng xưa, Nxb Lao động, 2007.
7/ Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb KHXH, 1976.
8/ Hồng Đức quốc âm thi tập, Nxb VH, 1982.
9/ Lê Quí Đôn - Vân Đài loại ngữ, T.I, III, Nxb VH-TT, 1995.
10/ Nội các quan bản - Đại Việt sử ký toàn thư, tục biên, Chính Hòa 1697, Nxb KHXH, 1994.
11/ Dấu xưa Nam bộ - Nxb Văn nghệ, 2006.
12/ Tranh ký họa Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nxb Trẻ, 1988.
13/ Việt Nam giáo sử, Nxb Cứu thế Tùng thư Sài Gòn, 1965.
14/ Cristophpro Borri - Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb TP. HCM, 1998.
15/ Việt Nam những sự kiện từ khởi thủy tới 1858.
16/ Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, Q.220.
17/ Sở KHCN Thừa Thiên - Huế - Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 - 6/2006.
18/ An Nam chí lược.
19/ Kể chuyện về đồ vật, Nxb Lao động, 2006.










