Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 16/12/2010 22:45 (GMT+7)

Quy trình kỹ thuật trồng một số giống rau màu vụ thu - đông năm 2010

I. Giống khoai tây VT2, Vỏ đỏ

1. Nguồn gốc:giống Khoai tây VT2 vỏ đỏ có nguồn gốc từ Viện Khoa hoc kỹ thuật nông nghiệp tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc lai tạo, được nhập vào Việt Nam từ năm 2009.

2. Đặc tính sinh học:

- Thời gian sinh trưởng: 80-90 ngày

- Đặc điểm hình thái: củ có hình thái quả trứng hoặc bầu dục, vỏ đỏ, ruột vàng, vỏ ở khu vực mắt khoai có màu tím đậm.

- Năng suất: 18-20 tấn/ha, chất lượng tốt, ruột khoai tây bở khi nấu chín, có mùi thơm đặc trưng hơn khoai tây khác.

- Kháng bệnh: héo xanh, mốc sương; kháng trung bình với bệnh xoăn lá.

3. Kỹ thuật trồng

3.1. Làm đất, lên luống

Đất cày bừa kỹ, tơi nhỏ, sạch cỏ dại mới lên luống.

Luống đơn rộng 1,1 - 1,2 m, cao hơn 25-30 cm, trồng 2 hàng.

3.2 Thời vụ trồng

Khoai tây hiện nay có thể trồng 2 vụ là vụ Đông và vụ Xuân, trồng chủ yếu vào vụ Đông. Trong đó:

+ Vụ sớm trồng 10-30 tháng 10.

+ Chính vụ trồng 1-30 tháng 11

+ Vụ muộn trồng 10 tháng 12 đến 20 tháng 1 năm sau (trồng thu hoạch để làm giống).

3.3 Phương pháp tách cũ

- Nên trồng nguyên củ, nếu củ to từ 50 gam trở lên ta dùng dao sắc khử trùng trước khi cắt.

+ Phương pháp cắt: Cắt dọc theo củ đảm bảo mỗi miếng có tối thiểu là 1 mầm đã nhú. Không nên cắt miếng quá nhỏ, cây sẽ yếu và phát triển kém.

+ Cắt xong, chấm mặt vết cắt vào tro bếp hoặc bột xi măng, để se mặt rồi đem trồng. Cắt khi các mầm mới nhú, vì nếu để quá khi trồng mầm mọc sẽ yếu. Chú ý, không để vết cắt tiếp xúc trực tiếp với phân bón, các mầm phải ở phía trên.

3.4. Mật độ trồng

Khoảng cách trồng 25-30cm x 65-70 cm, đảm bảo mật độ 50.000-55.000 khóm/ha. Sau khi đặt củ, lấp 1 lớp đất nhỏ lên trên mầm 4-5 cm. Đảm bảo đất đủ ẩm để cây nhanh mọc. Lượng giống 800kg - 1.000kg/ha.

Vôi

500-554

18-20

Phân chuồng

15.000-20.000

500-700

Supelân

460-500

16-18

Đạm ure

160-220

6-8

Kali Clorua

140-200

5-7

4. Lượng phân bón và chăm sóc:

(Có thể thay thế phân chồng bằng phân vi sinh với tỷ lệ 1 tấn phân chuồng = 50kg phân vi sinh).

- Cách bón:Phân đơn: bón lót toàn bộ lượng phân chuồng + lân + vôi + 70% lượng đạm + 70% lượng kali. Bón thúc toàn bộ lượng đạm và kali còn lại khi vun xới lần 2.

Chú ý: Khi bón phân cần bón xa gốc khoai tây.

- Vun xới

Lần 1: Sau trồng 7-10 ngày vun xới nhẹ lấp củ khoai kết hợp với tỉa mầm (chỉ để lại 3-5 thân/khóm).

Lần 2: Sau trồng 20-25 ngày, xới sâu, vun cao, bón thúc.

Lần 3: Sau trồng 35-40 ngày, xới nhẹ, vét rãnh luống, vun cao gốc.

- Tưới nước

+ Sau khi trồng, phải giữ đất ẩm thường xuyên, nếu khô phải kịp thời tưới nước.

* Tưới lần 1: Sau khi mọc 15-20 ngày, tưới ngập rãnh.

* Tưới lần 2: Sau lần 1 từ 15-20 ngày.

* Tưới lần 3: Sau khi trồng 60-65 ngày.

+ Phương pháp tưới: Cho nước vào ngập 2/3 rãnh và tưới ướt lên luống khi nào thấy đất ở giữa luống ngả màu sẫm là được, sau đó tháo nước ra, có thể tưới bằng thùng ô doa hoặc phun.

5. Một số sâu, bệnh hại chính và cách phòng trừ:

- Sâu hại:

* Rệp sáp hại khoai tây

Biện pháp phòng trừ: Không dùng củ khoai tây có rệp làm giống, bón phân cân đối, hợp lý; phòng trừ bằng một trong các loại thuốc: Penbis, Supracid, Oncol, Bi 58 50 EC,… theo liều khuyến cáo trên nhãn mác.

* Sâu khoang:

Biện pháp phòng trừ: Sử dụng Sherpa 5 EC, Trebon 10 EC, hoặc Pegasus 500 SC… theo liều khuyến cáo ghi trên nhãn mác.

- Bệnh hại:

* Bệnh sương mai:

Biện pháp phòng trừ: áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp như chọn giống tốt, kháng bệnh, trồng đúng thời vụ, đúng mật độ, bón phân cân đối, hợp lý… Dùng một trong các loại thuốc sau để phòng trừ: Boocdo 1%, Zinep 0,2-0,3%, Ridomil…

* Bệnh héo xanh vi khuẩn:

Biện pháp phòng trừ: Luân canh các loại cây trồng như mía, ngô, bông; Dùng giống kháng bệnh; Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn tàn dư, cỏ dại trên ruộng mang đốt trước khi gieo trồng; Tăng cường bón vôi, phân chuồng; Xử lý đất trước khi trồng bằng thuốc Chloropierin với lượng 300kg/ha (trước khi trồng 10 ngày).

* Nếu bị bệnh thối thân, xoăn lá… tốt nhất là dùng Zinep 80WG, RidomilMZ 72 WP, Anvil 5SC…theo liều khuyến cáo ghi trên nhãn mác.

6. Thu hoạch:Khi 80% số lá trên thân chuyển vàng thì thu hoạch. Trước khi thu hoạch ngừng tưới nước từ 15-20 ngày, thu hoạch vào những ngày nắng ráo. Đối với ruộng giống cần cắt toàn bộ thân lá trước khi thu hoạch khoảng 1 tuần.

II. Giống ngô lai LVN 61

LVN 61 là giống ngô lại đơn do Viện Nghiên cứu ngô lai tạo, là giống có triển vọng hiện nay, trồng được vụ xuân hè, thu đông ở các tỉnh phía Bắc.

1. Đặc điểm của giống:

- Thời gian sinh trưởng:

Vụ xuân hè: 120-125 ngày

Vụ thu đông: 95-110 ngày (không trồng sau 25 tháng 9)

- Hạt ngô dạng răng cưa màu vàng cam, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng.

- Chịu hạn tốt.

- Năng suất đạt từ 8-12 tấn/ha và ổn định ở các mùa vụ, các vùng sinh thái.

2. Kỹ thuật gieo trồng

- Thời vụ:Từ ngày 1 đến trước 25 tháng 9.

- Mật độ, khoảng cách gieo trồng:

+ Mật độ: cần đảm bảo mật độ 6,6-7,1 vạn cây/ha.

+ Gieo hàng cách hàng: 50-60 cm.

+ Hốc cách hốc: 28-30cm.

Gieo xen kẽ 1 hạt/hốc và 2 hạt/hốc liên tiếp sau tỉa chỉ để lại 1 cây/hốc.

Lượng phân bón cần cho 1 ha: 15-20 kg.

- Phân bón cho 1 ha

+ Phân chuồng: Tuỳ theo điều kiện

+ Urea: 400-550 kg.

+Supe lân: 600-700kg

+ Phân kali: 180-200 kg.

* Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân trước khi gieo hạt.

* Bón thúc 3 lần:

Lần 1: Khi ngô 3-5 lá: 1/3 lượng Urea + 1/3 lượng Kali

Lần 2: Khô ngô 8-9 lá: 1/3 lượng Urea + 1/3 lượng Kali

Lần 3: Trước khi ngô trỗ 3-5 ngày, bón nốt 1/3 lượng Urea còn lại.

- Chăm sóc - phòng trừ sâu bệnh.

+ Tỉa cây đảm bảo mật độ

+ Tưới nước đảm bảo độ ẩm cho ngô sinh trưởng.

+ Phun thuốc trừ cỏ hoặc làm sạch cỏ trước khi bón phân.

+ Phòng bọ nhậy, kiến, mối trong đất bằng cách rắc thuốc Vibasu 10H khoảng 15-20 kg/ha vào hàng ngô trước khi gieo hạt, trừ sâu đục thân bằng thuốc Basudin 10H rắc 7 đến 10 hạt vào loa kèn. Phun các loại thuốc trừ sâu bệnh hại như với các giống ngô khác.

- Thu hoạch: Khi thấy chân hạt xuất hiện điểm đen hay lá bị vàng là bắp đã chín.

Chú ý: Cần chăm sóc sớm nên bón phân đầy đủ và kịp thời vì LVN 61 là giống cho năng suất cao ở điều kiện thâm canh tốt.

III. Giống ngô nếp lai đơn MX10

1. Đặc tính:Sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh khô vằn, đốm lá, rỉ sắt rất tốt, năng suất bắp tươi còn vỏ đạt 18-19 tấn/ha, độ đồng đều bắp và cây rất cao, thu hoạch tập trung, tỷ lệ bắp loại 1 cao trên 95%, dạng bắp hơi nù, hạt trắng sữa, ăn tươi ngon, mềm dẻo, ngọt, thơm đặc trưng.

Thời vụ:Có thể trồng được quanh năm trên đất tưới tiêu chủ động; thời vụ tốt nhất từ ngày 1 tháng 9 đến ngày 20 tháng 10. Trồng cách ly thời gian và không gian với các loại bắp vàng để đảm bảo chất lượng ăn tươi và màu hạt.

2. Lượng phân và khoảng cách trồng:Mỗi ha cần 9-10 kg hạt giống, gieo 1 hạt/hốc, theo khoảng cách 70 x 25 cm, gieo thêm 10% số hạt trong bầu để trồng dặm, đảm bảo mật độ 57.000 cây/ha.

3. Phân bón:Lượng phân cho 1 ha: 5-10 tấn phân chuồng hoai, 250 kg Ure, 400-500 kg super Lân, 100-120 kg KCL, bón như sau:

- Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân lúc làm đất (có thể thay phân chuồng bằng phân vi sinh như QT1).

- Bón thúc lần 1: 10 ngày sau gieo bón 100 kg Ure, 40-50 kg KCL

- Bón thúc lần 3: 35-40 ngày sau gieo bón toàn bộ lượng phân còn lại.

4. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh:

Giai đoạn cây non và 2 tuần trước khi trổ cờ và 2 tuần sau trổ cờ cần tưới đủ ẩm, tránh úng để cây phát triển mạnh, cho trái và hạt phát triển tốt.

Chủ động diệt cỏ bằng phun thuốc đặc trị MAIZINE 80WP, phun lúc vừa gieo xong và 20 ngày sau gieo. Thời gian sinh trưởng bắp nếp MX10 ngắn, do đó cần bón đúng lúc, kết hợp làm cỏ xới xáo và vun gốc trong các đợt bón phân. Giống MX10 cho 2 trái, nên loại bỏ trái phía dưới sử dụng làm bắp nhí ăn tươi, để cây tập trung dinh dưỡng nuôi bắp trên. Nếu bắp có hiện tượng đẻ nhánh từ thân chính là do ruộng giàu dinh dưỡng hoặc bón quá thừa đạm, cần điều chính cân đối lượng phân bón cho thích hợp và loại bỏ sớm các nhánh đẻ này.

Đề phòng sâu đục thân, đục bắp non bằng cách rải Basudin, Furadan vào loa kèn khi bắp được 7-8 lá, nếu cần tận dụng thân lá để cho gia súc ăn nên bón qua gốc.

Để hạn chế bệnh đốm vằn, ở giai đoạn trước trổ cờ nên loại bỏ các lá già có vết bệnh ở gốc; nếu mưa nhiều, ẩm độ cao cần phun Validacine, Anvil để ngừa bệnh.

Để ngừa bệnh đốm lá phun Tilt hay Appencab.

Để phòng ngừa bệnh bạch tạng (sọc trắng lá) gây thất thu cho bắp như không hạt, không trái nên phun thuốc bằng thuốc Froraxy 35% định kỳ 2-3 lần ở giai đoạn 10-20, 30 ngày sau gieo đã giúp hạn chế bệnh trên.

5. Thu hoạch: Nếu dùng ăn tươi, sau thu cần phun sâu 18-20 ngày (62-64 ngày sau gieo), nếu thu khô, thu hoạch 75-80 ngày sau gieo.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Đắk Lắk: Trí thức khoa học và công nghệ - góp phần phát triển nhanh, bền vững của tỉnh
Sau hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên, không gian phát triển mới mở ra nhiều cơ hội, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ. Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2026–2031 là dấu mốc quan trọng, khẳng định quyết tâm tập hợp, phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh.
Vĩnh Long: Thúc đẩy ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển bền vững
Chiều ngày 31/7/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển bền vững tỉnh Vĩnh Long: Kết nối nghiên cứu, chuyển giao và đổi mới sáng tạo”
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 7/2026: xem xét nhiều nội dung quan trọng
Chiều ngày 31/7/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức hội nghị thường kỳ để thảo luận và cho ý kiến nhiều nội dung quan trọng về công tác tổ chức xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát, phát triển đảng viên và chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Cụm thi đua Liên hiệp hội các tỉnh Nam Bộ sơ kết công tác thi đua 6 tháng đầu năm 2026
Chiều ngày 30/7/2026, tại tỉnh Đồng Tháp, Cụm thi đua Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh Nam Bộ tổ chức Hội nghị sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị do TTND.TS.BS Ngô Văn Tán, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long, Cụm trưởng Cụm thi đua chủ trì.
Đắk Lắk tổ chức thành công Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031
Sáng 30/7, tại Khách sạn ELEPHANTS (tỉnh Đắk Lắk), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp Hội) long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031 với sự tham dự của 250 đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, các hội thành viên cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành và địa phương trong tỉnh.
Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 thành công tốt đẹp
Trong hai ngày 28-29/7, Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra trọng thể với chủ đề “Tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, xây dựng Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh vững mạnh, góp phần xây dựng tỉnh Tuyên Quang phát triển toàn diện, bền vững”.