Phòng chống sạt lở đất: Nghiên cứu nửa vời - Quản lý bỏ qua
Người nghèo là nạn nhân?
Giải thích về hiện tượng sạt lở núi, sạt lở đất gây chết người tại các tỉnh miền núi phía Bắc trong những ngày qua, TS Trần Trọng Huệ - Viện trưởng Viện Địa chất (Viện Khoa học - Công nghệ VN) cho rằng, nguyên nhân chính là do mưa dài ngày nên những vùng đất yếu đã xảy ra hiện tượng sạt lở đất. Ngoài ra, tác động từ hoạt động khai phá của con người trên các sườn dốc cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nguy cơsạt lở đất. Ở những khu vực này, có những nhà dân khoét sâu một góc 90 độ vào sườn núi, tạo thành bức tường dựng đứng khiến khả năng chống đỡ của đất đá rất yếu.
Cùng quan điểm này, PGS.TS Nguyễn Đình Hoè, Đại học KHTN Hà Nội cho rằng, đó là hiện tượng tự nhiên tất yếu và không có gì đặc biệt. Sở dĩ con số người chết và thiệt hại tài sản lớn nhưvậy chính là hiểu biết và kiến thức của người dân về trượt lở đất còn rất hạn chế. Tuy nhiên, không thể trách người dân khi mà họ trong hoàn cảnh “lực bất tòng tâm”. Bởi nếu nhìn vào những vụ sạt lở đất từ trước đến nay cho thấy, nạn nhân thường rơi vào những người nghèo. Theo PGS Nguyễn Đình Hoè, để giải quyết tình trạng này, Sở TN&MT các tỉnh cần công bố vùng nhạy cảm thiên tai trượt đất đá, từ đó khuyến cáo người dân không sinh sống ở đó. Chính quyền địa phương cũng phải vào cuộc, phải có kế hoạch để di chuyển, chính sách hỗ trợ di dời dân ra chỗ an toàn. Đây cũng là một trong những chiến lược giảm thiên tai của Liên Hiệp Quốc đã thực hiện khá thành công một số nước. Phương thức thực hiện hiệu quả nhất là nhà nước và nhân dân cùng làm.
PGS Hoè nhấn mạnh: “Nếu địa phương nào chưa có bản đồ này thì rõ ràng là quản lý kém bởi nó là một trong những cứ liệu khoa học quan trọng để định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương”.
Nghiên cứu chưa tới?
TS Trần Trọng Huệ cho biết, rất ít địa phương cóđược dạng bản đồ vùng trượt lở đất hoặc khu vực có nguy cơxảy ra thiên tai. Nếu có thì chỉ là những cảnh báo từ phía cơquan nghiên cứu khi thực hiện dự án cấp nhà nước khi khảo sát tại địa phương, nhưng cũng chỉ là những khu vực rất nhỏ. Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Hoà Bình... những tỉnh có người thiệt mạng do sạt lở đất vừa qua đều là những tỉnh đã có bản đồ nguy cơvùng sạt lở đất do Viện Địa chất cung cấp. Thế nhưng, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu này vào cảnh báo, hướng dẫn cho người dân phòng chống một cách hiệu quả thì không thấy các tỉnh triển khai.
Trao đổi với PV báo KH&ĐS, TS Nguyễn Lê Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN, Bộ TN&MT khẳng định, hiện chưa có Sở TN&MT nào tiến hành xây dựng bản đồ nguy cơsạt lở đất.
Được biết, các nhà khoa học đã xây dựng xong bản đồ nguy cơtrượt lở, bản đồ nguy cơlũõ quét-lũ bùn đá cho toàn lãnh thổ VN (tỷ lệ 1:3.000.000 và 1:1.000.00), bản đồ riêng cho ba khu vực trọng điểm ở miền núi phía Bắc (tỷ lệ 1:50.000). Nhưng loại bản đồ này chỉ phục vụ cho quy hoạch ở dạng vĩ mô, định hướng chiến lược. Còn để ứng dụng cho vi mô thì cần xây dựng bản đồ phân vùng chi tiết hơn, với tỷ lệ 1:25.000 hoặc 1:10.000.
Không chỉ có vậy, ngay cả khi xây dựng xong các bản đồ phân vùng chi tiết thì những bản đồ đó vẫn chỉ thuần tuý là lý thuyết, không phát huy tác dụng nếu khôngđược phối hợp với các giải pháp khác. Do vậy, để phòng chống lũ quét và trượt lở đấtû hiệu quả, cần có các giải pháp đồng bộ, tổng thể, chứ không chỉ nghiên cứu, lập bản đồ.
Theo tổng hợp của Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trungương, tổng số người chết và mất tích do mưa lũ vừa qua trên cả nước là 34 người, trong đó có 33 người chết và một người mất tích. Theo Trung tâm dự báo Khí tượng thuỷ văn quốc gia, trong 10 năm qua đã có hơn 500 người chết và mất tích.
Nguồn: KH&ĐS số 69 thứ Hai 28 - 8 - 2006








