Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 12/11/2010 19:00 (GMT+7)

Phát triển kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh của Trung Quốc

Phát triển kinh tế Trung Quốc chủ yếu nhờ đóng góp của khu vực ven biển mà động lực chính của sự phát triển kinh tế tại khu vực ven biển Trung Quốc chính là các khu kinh tế tự do. Các khu kinh tế tự do ở Trung Quốc có vai trò như các cực tăng trưởng cho phát triển kinh tế và cơ sở thí điểm, là công cụ cho cải cách và cho chính sách mở cửa. Đặc điểm chung của các khu kinh tế tự do Trung Quốc là chính sách kinh tế đặc biệt và những mục tiêu đặc biệt ở một khu vực được xác định. Tuy nhiên, loại hình mở cửa ở Trung Quốc rất đa dạng. Các khu kinh tế tự do Trung Quốc được phân loại thành khu kinh tế tự do tổng hợp, khu kinh tế tự do chế tạo, khu kinh tế tự do dựa trên khoa học, thương mại và khu kinh tế tự do xuyên biên giới và rất nhiều các dạng khác nhau bao gồm các đặc khu kinh tế, các khu phát triển kinh tế công nghệ, các khu phát triển tổng hợp, các khu công nghiệp cao và mới, các khu thương mại tự do, các khu thương mại biên giới tự do, các tam giác tăng trưởng, khu chế xuất và đặc khu hành chính, kinh tế.

Trung Quốc tập trung nhiều vào nghiên cứu chiến lược biển, đặc biệt là chiến lược khai thác phát triển biểnĐông. Từ chiến lược khai thác biển Đông, Trung Quốc đã tiến tới xây dựng quy hoạch phát tnển kinh tế biển Đông (Trung ương có chiến lược và quy hoạch kinh tế biển toàn quốc, địa phương, đặc biệt là các tỉnh ven biển cũng đều có riêng các chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế biển). Đáng chú ý nhất là "Chiến lược 3 chữ M" hay "Chiến lược một trục hai cánh" là chiến lược hợp tác tiểu vùng Trung Quốc- ASEAN gồm trục "Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapo", cánh một là hợp tác tiểu vùng sông Mêkong mở rộng", cánh hai là" Hợp tác tiểu vùng Vịnh Bắc bộ mở rộng". "Hợp tác tiểu vùng Vịnh Bắc bộ mở rộng" là trọng điểm của chiến lược "Một cánh hai trục của Trung Quốc", bởi lẽ Trung Quốc coi trọng vị trí chiến lược của biển Đông, vì khống chế được biển Đông, tức là khống chế được cả vùng Đông Nam Á và cả con đường giao lưu huyết mạch từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương và cũng là khu vực giàu tài nguyên, đặc biệt là dầu khí.

Trong khuôn khổ "hợp tác tiểu vùng Vịnh Bắc bộ mở rộng" Trung Quốc đã xây dựng Khu kinh tế Vịnh Bắc bộ (Quảng Tây) như là một hạt nhân và nền tảng. Khu kinh tế này được thiết kế theo mô hình "Một trung tâm, ba thành phố cảng và hai thành phố vệ tinh, tạo nên một cấu trúc kinh tế mở rất mạnh ra Vịnh Bắc bộ, biển Đông và Thái Bình Dương. Khu kinh tế Vịnh Bắc bộ dựa lưng vào Đại Tây Nam, mặt hướng ra các nước Đông Nam Á, phía Đông liền kề với đồng bằng Chu Giang, nằm ở giao điểm của ba khu vực, là khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN, vành đai kinh tế vùng Chu Giang mở rộng và vành đai kinh tế Đại Tây Nam, là khu vực ven biển duy nhất của khu vực phía Tây, vừa là cầu nối, cơ sở quan trọng giữa Trung Quốc với các nước ASEAN, là cửa ngõ, tiền phương quan trọng trong mở cửa đối ngoại, đi ra các nước ASEAN, đi ra thế giới, ưu thế vị trí nổi trội, vị trí chiến lược rõ nét.

Mục tiêu tổng thể đẩy mạnh mở cửa phát triển khu kinh tế Vịnh Bắc bộ là lấy xây dựng bến cảng làm đầu tàu, lấy phát triển công nghiệp ven biển làm trọng điểm, lấy xây dựng cơ sở hạ tầng làm bảo đảm, lấy các dải đô thị làm chỗ dựa, lấy phát triển đổi mới làm động lực, ra sức phấn đấu trong thời kỳ 5 năm lần thứ XI, làm cho cơ sở hạ tầng của toàn vùng tương đối hoàn thiện, cảng biển có sức cạnh tranh tổng hợp mạnh, bố cục ngành nghề nhất thể hoá từng bước hình thành. Sau đó qua phấn đấu các năm tiếp theo, cuối cùng xây dựng vùng này thành các dải đô thị có ảnh hưởng nhất tại vùng phía Tây Nam Trung Quốc, trở thành trung tâm chế tạo, doanh vận, ngoại thương, thông tin, tiền tệ và giao lưu văn hoá trong khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc -ASEAN.

Việc Trung Quốc đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, trong đó trực tiếp nhất là phát triển khu kinh tế Vịnh Bắc bộ trong khuôn khổ " Hợp tác tiểu vùng Vịnh Bắc bộ mở rộng", tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho phát triển kinh tế biển Việt Nam. Trong số các cơ hội có hợp tác kinh tế nâng cao hiệu quả, tiếp thu công nghệ, mở rộng thị trường... Kinh tế biển Đông với sự phát triển năng động sẽ tăng sức hấp dẫn, thu hút các nguồn lực kinh tế thế giới vào khu vực này, điều đó có lợi cho tất cả các bên. Tuy nhiên, đối với nước ta cơ hội đó có trở thành hiện thực hay không tuỳ thuộc chủ yếu vào những nỗ lực trong nước. Nếu không có những điều chỉnh cần thiết, những chính sách thích hợp, nước ta sẽ chỉ đạt được những tiến bộ nhất định" tiến một bước trong các ngành kinh tế biển như tăng trưởng, đổi mới một số công nghệ, tăng xuất khẩu mà ít có tiến bộ đột phá. Mặt khác, nước ta có thể phải đối mặt với một số thách thức như: Các trung tâm kinh tế biển Trung Quốc, nhất là khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ với sức hấp dẫn cao của nó, thu hút mạnh dòng vốn đầu tư quốc tế từ đó ảnh hưởng xấu đến dòng vốn quốc tế vào Việt Nam; Đang dần xuất hiện một sự phân công lao động quốc tế trên dải ven biển phía Tây Biển Đông theo hướng khu kinh tế Vịnh Bắc bộ đóng vai trò trung tâm phát triển, tập trung các ngành nghề then chốt, giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ cao, đẩy các vùng kinh tế ở việt Nam vào vị trí cấp hai. Có thể sẽ có một làn sóng mới về chuyển dịch các ngành công nghiệp cấp thấp "lắp ráp" từ Trung Quốc vào các vùng biển Việt Nam; Sự gắn kết, liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp, giữa các khu kinh tế ven biển Việt Nam có thể sẽ bị ảnh hưởng trước sức hút của các doanh nghiệp, khu kinh tế ven biển Trung Quốc; Có thể xây ra một số trường hợp kinh tế biển là gánh nặng cho nền kinh tế như hậu quả của trào lưu xây nhà máy mía đường, xi măng công nghệ Trung Quốc ở Việt .Nam vừa qua...

Với một nền kinh tế biển không hoàn thiện, không nâng sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế, kinh tế biển khó ấo thể đáp ứng được mục tiêu bảo vệ chủ quyền, an ninh. Ngược lại, căng thẳng trong tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển Đông nếu không được xử lý tốt sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế biển Việt Nam, nhất là đối với các ngành dầu khí, hải sản, vận tải biển, du lịch biển.

Nước ta cần tạo ra lợi thế chiến lược như cần tính đến, hướng tới các lợi thế so sánh động, những lợi thế chiến lược. Tạo ra lợi thế chiến lược là nhiệm vụ chính của cả nước. Phát triển kinh tế biển càng đòi hỏi vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập lợi thế chiến lược, vì đây là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn, rủi ro cao, tính độc quyền tự nhiên cao, cạnh tranh quốc tế mạnh hơn. Vai trò của nhà nước là vai trò hoạch định chiến lược, quy hoạch, quản lý, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là về thể chế kinh tế chứ không phải là vai trò người chủ trực tiếp kinh doanh. Đầu tư nhà nước tránh dàn trải.

Các giải pháp trọng tâm cần được xem xét ở cấp quốc gia lẫn cấp địa phương là làm tốt công tác quy hoạch phát triển, có biện pháp thực thi nghiêm túc. Bất cập đến nay trong quy hoạch phát triển kinh tế biển của Việt Nam thể hiện rõ trong hầu hết các lĩnh vực, từ quy hoạch hệ thống cảng biển, hệ thống hậu cần kinh tế biển, giao thông ven biển, đô thị ven biển…đến quy hoạch phát triển các ngành như du lịch biển, vận tải biển….

Cần nghiên cứu tiến hành các biện pháp mạnh bạo hơn như lập các khu kinh tế tự do ven biển với thể chế cởi mở hơn, lập các công ty lớn trong khai thác đánh bắt xa bờ. Đột phá trong cải cách hành chính, triển khai quản lý tổng hợp phát triển kinh tế biển. Thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các vùng. Cổ vũ sáng kiến của doanh nghiệp, thúc đẩy tinh thần kinh doanh, hiện đại hóa doanh nghiệp, tăng cường liên kết hợp tác…

Thay vì trợ cấp cho các ngành, doanh nghiệp, hãy hỗ trợ để họ hiện đại hóa. Thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ biển, phát triển các ngành mới.

Trong quan hệ kinh tế đối ngoại cần tiếp tục nhấn mạnh chủ trương đa phương hóa. Về công nghệ, cần chú ý thúc đẩy tiếp cận công nghệ của các nước phát triển và cần có hệ thống chính sách thông thoáng để thu hút đầu tư từ các tập đoàn kinh tế biển quốc tế.

Nước ta khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa và vùng biển liên quan. Tuy nhiên, nếu biển Đông bất ổn sẽ cản trở đến phát triển kinh tế biển của Việt Nam . Trước mắt, cần đặt trọng tâm vào mục tiêu duy trì ổn định trên biển Đông, xử lý hòa bình các tranh chấp, lấy đó làm bối cảnh để phát huy nội lực và tăng cường thu hút ngoại lực để phát triển kinh tế biển.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.