Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 13/01/2010 22:06 (GMT+7)

Phát triển hài hoà các phương thức chăn nuôi với các quy mô khác nhau

1. Phương thức chăn nuôi

Phương thức chăn nuôi thường có quan hệ với kỹ thuật chăn nuôi. Tuỳ theo kỹ thuật chăn nuôi, có thể phân phương thức chăn nuôi làm hai loại: chăn nuôi truyền

thống và chăn nuôi hiện đại.

1.1     Chăn nuôi truyền thống

Đặc điểm: Chăn nuôi với các kỹ thuật thô sơ (dù là chăn nuôi phân tán ở các gia đình hoặc chăn nuôi tập trung theo kiểu du mục như chăn nuôi vịt thả đồng…)

Ưu điểm: Tận dụng được thứ ăn, vật tư (đất đai, chuồng trại), lao động…

- Góp phần giải quyết được công ăn việc làm, cải thiện đời sống của người chăn nuôi (đặc biệt là nông dân).

- Bảo tồn được đa dạng sinh học.

Khó khăn và nhược điểm:

Khó khăn:

- Khó áp dụng khoa học kỹ thuật

- Khó khống chế dịch bệnh

Nhược điểm:

- Năng suất thấp

- Sản phẩm ít và không đồng đều (đối với việc chăn nuôi phân tán ở các gia đình).

1.2 Chăn nuôi hiện đại

Đặc điểm: Chăn nuôi với kỹ thuật hiện đại (ở cả 3 loại quy mô chăn nuôi nhỏ, vừa và lớn).

Ưu điểm:

- Có điều kiện để áp dụng khoa học kỹ thuật.

- Có điều kiện để khống chế dịch bệnh.

- Năng suất cao, sản phẩm nhiều và đồng đều (đối với chăn nuôi theo quy mô lớn).

Khó khăn và nhược điểm:

Khó khăn:Phải đầu tư thức ăn, vật tư (đất đai, chuồng trại…), con giống…

Nhược điểm:

- Làm giảm tính đa dạng sinh học (do chỉ nuôi những giống có năng suất cao).

- Môi trường dễ bị ô nhiễm (đối với nuôi quy mô lớn)

Để phát huy ưu điểm và khắc phục khó khăn, nhược điểm của hai phương thức chăn nuôi trên, một số nước đang phát triển phương thức chăn nuôi hữu cơ, mà thực chất đó là một phương thức chăn nuôi kết hợp giữa chăn nuôi truyền thống và chăn nuôi hiện đại.

2. Quy mô chăn nuôi

Quy mô chăn nuôi thường có quan hệ với số lượng đầu vật nuôi trong một cơ sở chăn nuôi. Tuỳ theo số lượng đầu vật nuôi, có thể chia quy mô chăn nuôi thành ba loại: quy mô chăn nuôi nhỏ, vừa và lớn.

Ranh giới giữa ba quy mô này thay đổi theo đặc điểm của từng nơi: thí dụ: trong chăn nuôi lợn thịt, thì ở Việt Nam nuôi trên 100 con/ hộ là chăn nuôi quy mô lớn, nhưng ở các nước chăn nuôi phát triển (ở châu Âu, châu Mỹ…) thì đó vẫn là chăn nuôi quy mô nhỏ. Trong chăn nuôi bò sữa, thì ở Việt Nam nuôi trên 50 con/ hộ là chăn nuôi quy mô lớn, nhưng ở các nước chăn nuôi phát triển (ở châu Âu, châu Mỹ…) thì đó vẫn là chăn nuôi quy mô nhỏ. Trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp đẻ trứng, thì ở Việt Nam chăn nuôi trên 2000 con/ hộ là chăn nuôi quy mô lớn, nhưng ở các nước chăn nuôi phát triển (ở châu Âu, châu Mỹ…) thì đó vẫn là chăn nuôi quy mô nhỏ.

Cần lưu ý rằng: dù quy mô chăn nuôi là nhỏ, vừa hay lớn đều có thể có hai phương thức chăn nuôi: truyền thống và hiện đại.

Trong thời gian qua (thế kỷ 20), phần lớn các nước có nền chăn nuôi phát triển (ở châu Âu, châu Mỹ) đều tập trung phát triển chăn nuôi hiện đại với quy mô ngày càng lớn. Đó là hướng chủ đạo trong quá trình phát triển chăn nuôi hiện nay của các nước có nền chăn nuôi tiên tiến.

Ở Việt Nam , Nghị quyết số 26 NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã chỉ rõ: Phát triển ngành chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, an toàn dịch bệnh, phù hợp với lợi thế của từng vùng…. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 10/2008 NQ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã ghi rõ: Khuyến khích các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại công nghiệp, đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện hộ chăn nuôi theo phương thức truyền thống chuyển dần sang phương thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp…Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phương thức trang trại công nghiệp.

Như vậy hướng chỉ đạo trong quá trình phát triển chăn nuôi của Việt Nam cũng là: tổ chức các trang trại chăn nuôi theo hướng hiện đại và quy mô ngày một lớn.

Tuy nhiên để ngành Chăn nuôi Việt Nam phát triển một cách bền vững, đặc biệt là hiện nay những người chăn nuôi nhỏ và vừa, theo phương thức chăn nuôi truyền thống ở Việt Nam đang cung cấp 70 – 80% tổng sản phẩm chăn nuôi; chúng ta không nên coi nhẹ thành phần kinh tế này, không để thành phần kinh tế này bị tổn thương, bị loại ra khỏi sân chơi về chăn nuôi sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO ).

Nghĩa là chúng ta cần hỗ trợ những người chăn nuôi ở quy mô nhỏ và vừa theo phương thức chăn nuôi truyền thống phát huy hết ưu điểm, khắc phục các nhược điểm; góp phần vào sự phát triển chăn nuôi chung của cả nước.

Một số biện pháp cần hỗ trợ có thể là:

- Vốn: làm sao để cho những người chăn nuôi theo phương thức chăn nuôi truyền thống với quy mô nhỏ và vừa tiếp cận được với các nguồn vốn. Thí dụ tổ chức các ngân hàng chăn nuôi kiểu ngân hàng chăn nuôi bò của FAO.

- Kỹ thuật: làm sao để cho những người chăn nuôi theo phương thức chăn nuôi truyền thống với quy mô nhỏ và vừa nắm được các kỹ thuật tăng năng suất chăn nuôi, bao gồm cả các biện pháp trừ dịch bệnh. Thí dụ tổ chức tốt việc tập huấn kỹ thuật tại cơ sở (làng, bản…).

- Thị trường: Ngoài phần tự cung, tự cấp, cần tổ chức tiêu thụ sản phẩm cho người chăn nuôi. Ví dụ, hình thành các vùng sản xuất sản phẩm và xây dựng các Hợp tác xã tiêu thụ sản phẩm.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.