Phát triển đồng cỏ để đẩy mạnh chăn nuôi gia súc
Tuy nhiên, chăn nuôi gia súc của nước ta vẫn còn phát triển chậm. Chăn nuôi chủ yếu tồn tại trong nông hộ nhỏ lẻ, phân tán; thức ăn chủ yếu là tận dụng cỏ tự nhiên và phụ phẩm trong nông nghiệp, sử dụng thức ăn công nghiệp còn rất ít. Năng xuất, sản lượng thịt, sữa và hiệu quả chăn nuôi chưa cao. Chăn nuôi bò sữa còn nhỏ bé và bấp bênh. Chăn nuôi gia súc ăn cỏ trâu, bò, dê, cừu, thỏ…chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.
Nguyên nhân cơ bản theo chúng tôi nhận thấy là chăn nuôi gia súc chưa được đầu tư đúng mức, đặc biệt thiếu trầm trọng thức ăn thô xanh. Thức ăn thô xanh là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho gia súc ăn cỏ, nhưng hiện nay, nguồn thức ăn cơ bản là tận dụng cỏ tự nhiên và phụ phẩm trong nông nghiệp. Đồng cỏ thâm canh còn rất nhỏ bé. Muốn phát triển chăn nuôi gia súc bắt buộc phải phát triển mạnh đồng cỏ. Vấn đề này còn chưa được chú ý nhiều trong tiềm thức của người chăn nuôi và trong nhận thức và chỉ đạo của các cấp nhất là ngành nông nghiệp các địa phương.
Đồng cỏ của ta hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu là trồng xen, tận dụng…chưa thành phổ biến đại trà. Các giống cỏ năng suất cao được nhập vào nước ta từ những năm 70 của thế kỷ 20 với rất nhiều giống tốt đã thích nghi cao với điều kiện nước ta nhưng chưa phát huy được vì cơ bản đến nay diện tích trồng còn rất nhỏ bé. Một số nông trường, xí nghiệp có vài chục hécta cỏ đã là ghê lắm rồi. Rất nhiều chương trình khuyến nông phát triển đồng cỏ nhưng lại chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, còn cơ bản vẫn chưa thay đổi được tập quán người chăn nuôi cho rằng việc gì phải đi trồng cỏ! Trong kho đó, phân tích cho thấy rõ trồng cỏ chăn nuôi có lợi ích hơn nhiều lần trồng lúa và nhiều loại cây trồng khác.
1. Chúng ta có rất nhiều vùng trung du đang chủ yếu trồng sắn với năng xuất 5-6 tạ/sào Bắc bộ. Nếu tính giá sắn cao nhất khoảng 800-1.000 đồng/kg thì 1 sào sắn trong 1 năm chỉ thu được 500.000-600.000đ. Trừ các loại chi phí thì chỉ có lãi 200.000 đ/sào kể cả công lao động. Sắn lại khó chế biến, bảo quản, dự trữ nên hay bị mất giá vào mùa thu hoạch. Nhiều vùng trồng cây ăn quả như nhãn, vải cũng rất dễ bị mất mùa do thời tiết, sâu bệnh. Các loại nhãn vải lại thường chín rầm rộ trong thời gian ngắn nên rất hay bị mất giá vào mùa thu hoạch trong khi công nghiệp chế biến còn chưa phát triển. Rất nhiều vùng còn trồng keo, bạch đàn phải 8-10 năm mới được thu hoạch và chỉ đạt 8-10 triệu đồng/ha. Như vậy, bình quân mỗi năm một ha chỉ thu được 1 triệu đồng. Cây bạch đàn còn làm hỏng đất. Năng xuất sản xuất nông nghiệp như vậy là vô cùng thấp. Rất nhiều hộ nông dân ở vùng Sơn Tây, Ba Vì (Hà Tây) có vài ha đất mà vẫn đói nghèo vì chỉ biết trồng sắn, trồng rừng.
2. Nếu trồng cỏ thâm canh chăn nuôi thì với trâu bò sinh sản cần 3 sào/con/năm, nếu mỗi năm đẻ được 1 lứa thì có thể thu được từ 2,5-3,0 triệu đồng tùy theo bê đẻ ra là bê đực hay bê cái. Nếu nuôi trâu bò thịt thì với tăng trọng 70- 80 kg/năm cũng thu được khoảng 2,0-2,5 triệu đồng. Như vậy có thể thu được 800.000-900.000 đồng/sào/năm. Tại huyện Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, với sự giúp đỡ của Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ chăn nuôi miền núi (Viện Chăn nuôi), rất nhiều hộ đã trồng cỏ chăn nuôi trên đất đồi gò cho thu nhập rất cao. Nhiều hộ trồng cỏ trên vùng đất dốc 45 độ cỏ vẫn phát triển tốt. Nhiều hộ còn kinh doanh bán cỏ, bán giống rất có lãi. Hộ gia đình ông Nguyễn Văn Chiến ở xã Cổ Đông (Sơn Tây-Hà Tây) thường xuyên nuôi 30-40 con bò vàng và bò lai sind cho lãi hàng năm 40-50 triệu đồng và nhiều lần được UBND tỉnh tặng bằng khen hộ nông dân sản xuất giỏi.
3. Nếu nuôi bò sữa cần 4 sào cỏ/con, với chu kỳ 1 năm trung bình 3,5 tấn sữa, giá sữa bình quân 7.000 đ/kg thì có doanh thu gần 6 triệu đồng/năm/sào. Theo kinh nghiệm của nhiều hộ chăn nuôi bò sữa tại xã Kim Sơn (Sơn Tây- Hà Nội) thì thức ăn chiếm 70% giá thành, trong đó thức ăn xanh chiếm 60%. Như vậy, trừ các loại chi phí thì còn lãi 1.200.000- 1.500.000 đ/sào cỏ trồng kể cả tiền bán bê con. Gia đình ông Khuất Quang Bảy ở xã Kim Sơn nuôi 5 con bò sữa có 9 sào cỏ còn phải mua thêm cũng cho lãi hàng năm 10- 12 triệu đồng. Tại xã Kim Sơn, có vài chục hộ gia đình bỏ sắn trồng cỏ chăn nuôi bò sữa đời sống rất khá. Tại vùng này từ nhiều năm nay cũng nuôi rất nhiều dê, thỏ là nơi cung cấp thực phẩm lớn cho thị trường Hà Nội.
4. Trồng cỏ chăn nuôi gần như không phải đầu tư gì ngoài công lao động. Phân trâu bò dùng bón ngay cho đồng cỏ. Trồng cỏ không đòi hỏi kỹ thuật và chăm bón cao. Các giống cỏ như cỏ voi, ghinê, păngola, cỏ ruzi…thích nghi cao cả trên những vùng đất nghèo. Cỏ giống thường 2 năm thay một lần dùng luôn hom hoặc hạt cỏ đang trồng thay thế. Sau mỗi lứa thu hoạch mới phải chăm bón một lần. Cỏ phát triển mạnh vào mùa mưa, đối với các loại cỏ thân bò có thể phơi khô, các loại cây thân đứng có thể ủ chua làm thức ăn dự trữ quanh năm.
5. Trâu bò có sức chống chịu bệnh tật cao, khả năng chịu đựng kham khổ cao. Trâu, bò, dê, cừu, thỏ có thể hoàn toàn chỉ cần sử dụng cỏ. Chăn nuôi trâu bò đầu tư thấp, ít gây ô nhiễm môi trường. Thịt trâu bò có thể coi là nguồn thịt sạch vì ít sử dụng thức ăn công nghiệp và các chất kích thích sinh trưởng. Trong điều kiện dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh hiện nay, rất cần đẩy mạnh chăn nuôi trâu bò, gia súc ăn cỏ nói chung để cung cấp nguồn thực phẩm cần thiết cho thị trường. Muốn phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ thì điều kiện tiên quyết là phải phát triển mạnh đồng cỏ. Cần có sự chuyển đổi mạnh mẽ trong nhận thức của người chăn nuôi và chỉ đạo của các cấp ngành nông nghiệp. Các vùng trung du, đồi gò cần bỏ hẳn trồng sắn, trồng rừng kém hiệu quả sang trồng cỏ; các vùng đồng bằng cần chuyển đổi, dồn điền, đổi thửa…để trồng cỏ; có chính sách khuyến khích thích đáng đẩy mạnh đồng cỏ để phát triển chăn nuôi gia súc./.








