Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 10/11/2011 22:36 (GMT+7)

Ô nhiễm trầm tích biển ở Việt Nam

Nói về tiêu chuẩn đánh giá mức độ ô nhiễm mà Việt Namđang áp dụng đối với môi trường trầm tích biển, TS Tiến cho biết: Đất đai có tiêu chuẩn về chuẩn ô nhiễm riêng của Việt Nam . Hoặc về môi trường nước thì mặt nước biển ven bờ Việt Nam có tiêu chuẩn môi trường. Riêng trầm tích biển thì hiện nay chưa có tiêu chuẩn. Trước thực trạng chưa có tiêu chuẩn như thế, tôi sử dụng hai tiêu chuẩn của Canada , nó gắn liền với điều tra bệnh học.

Tất nhiên các tiêu chuẩn đều gắn liền với điều tra bệnh học. Nhưng riêng Canada ngoài điều tra bệnh học còn điều tra về đa dạng sinh học, sự thay đổi các hệ sinh thái. Nó đưa ra khái niệm TEN – giá trị ngưỡng. Và TEN tức là giá trị mà vượt lên trên thì tác động mạnh mẽ tới đặc điểm sinh học của vật chất hữu cơ, trong đấy có nguồn lợi, có con người. Bản chất của tiêu chuẩn Canada là như vậy. Và ở Việt Namchúng tôi áp dụng tiêu chuẩn Canada . Cái nào vượt TEN thì ô nhiễm.

Ở Mỹ thì người ta dùng tiêu chí độc tính của Mỹ. Nó đơn giản hơn. Tại sao phải dùng cả hai tiêu chuẩn? Dùng TEN thì mới có cái đánh giá được chừng mực nào đấy sự thay đổi cấu trúc tế bào của thủy sản. Còn độc tính của Mỹ thì chỉ biết cái đó bắt đầu ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các nguồn lợi, cá tôm… hệ sinh thái đáy biển.

Về giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường trầm tích biển ở Việt Nam , ông Tiến cho biết: Mục tiêu là bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý nguồn lợi của đáy biển, đặc biệt là nguồn lợi về vật liệu xây dựng. Trong đề tài của chúng tôi có chuyên đề các giải pháp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trầm tích biển và bảo vệ môi trường. Chủ yếu là những vùng cửa sông.

Có hai hiện tượng ở cửa sông đối lập nhau nhưng lại kết hợp với nhau một cách chặt chẽ, hữu cơ. Đáy của cửa sông thì bồi lắng, làm lấp luồng lạch giao thông. Nhưng bờ của cửa sông lại xói lở. Hai việc ấy là hai quá trình đối lập nhau. Thế thì xử lý như thế nào? Ở cửa Ba Lạt và cảng Đình Vũ (Hải Phòng) cứ 10 m 3múc đổ ra thì nó trở lại 4 – 5 m3 theo dòng chảy. Thế thì chúng tôi có kiến nghị là ở vùng cửa sông nên biến việc nạo hút bùn thành vừa nạo hút vừa khai thác vật liệu để san nền.

Ở miền Bắc thì không có vấn đề gì lớn với vật liệu san nền bởi vì có cát ở bờ sông. Riêng với đồng bằng Nam Bộ, ví dụ Sóc Trăng. Năm 2005 sú vẹt lấn biển, lúa lấn sú vẹt. Rồi tôm lấn lúa. Bây giờ đất màu lấn cả tôm lẫn lúa, tức là tính ra nếu anh đào đất màu mà bán thì lợi nhuận cao hơn trồn lúa, nuôi tôm, làm cho đồng bằng bạc màu là vì thiếu vật liệu san nền. Đồng bằng sông Cửu Long không có vật liệu san nền. Chúng tôi kiến nghị các vùng cửa sông tập trung vấn đề giải quyết nạo hút lòng sông gắn với khai thác vật liệu san nền.

Chuẩn bị “đồ nghề đi biển” của nhóm nghiên cứu đề tài

Về vấn đề ô nhiễm, chúng tôi kiến nghị như sau: Thứ nhất, phải đưa việc bảo vệ môi trường vào cuộc sống, tức là chỉ có cách từ trên xuống – top down thì chưa phải mà quan trọng nhất mà phải bottom up – dưới lên. Người dân mà đứng ra quản lý bảo vệ môi trường thì bản thân họ trước hết phải thay đổi vì ô nhiễm môi trường đâu phải do nhà nước mà chính là do người dân. Thế thì phải có sự bảo vệ môi trường, đưa bảo vệ môi trường vào cuộc sống. Giáo dục, nâng cao trình độ dân trí để họ tham gia và bảo vệ môi trường, tham gia quản lý bảo vệ môi trường.

Về mặt kỹ thuật thì phải giảm thiểu tối đa việc xả thải của các khu công nghiệp vùng ven biển, xả thải bừa bãi của các doanh nghiệp chế biến hải sản… Cửa sông Phan Thiết, Bình Thuận vỏ trai, hàu, nghêu… chất thành núi…

Nâng cao chế tài xử phạt đối với khu vực ven biển, đặc biệt quy trách nhiệm cho chính quyền bảo bệ môi trường của địa phương một cách đầy đủ hơn.

Nhìn chung môi trường nước và trầm tích trong 5 vùng trọng điểm - Vịnh Hạ Long, Cửa Ba Lạt, Vịnh Đà Nẵng, Cửa Bảy Hạp, Vịnh Rạch Giá, ngày càng xấu đi. Trong thời gian từ năm 1995 đến năm 2009 chúng tôi nhận thấy có sự biến động: Hàm lượng trung bình của các kim loại nặng trước năm 1998 đều không cao và bắt đầu tăng cao với mức độ khác nhau từ năm 1998 đến 2004, sau đó có xu hướng giảm. Tuy nhiên mức độ tăng có khác nhau đối với từng nguyên tố, và thời gian tăng ở các vùng khác nhau, các nguyên tố khác nhau thì cũng khác nhau.

Nguyên nhân có lẽ trước năm 1998, mức độ hoạt động kinh tế chưa mạnh, từ 1998 đến 2004 do hoạt động xả thải mạnh hơn nên có sự tăng cao hàm lượng các kim loại nặng và sau năm 2004 do Nhà nước tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra môi trường và ý thức của người dân tốt hơn, nên mức độ xả thải ít hơn. Những nhận định trên chỉ là bước đầu, cần phải đầu tư tiếp tục nghiên cứu.

Để bảo vệ và khai thác trầm tích biển, một số định hướng sử dụng, khai thác hợp lý trầm tích biển và giải pháp cho 5 vùng trong điểm như sau:

- Định hướng khai thác và sử dụng hợp lý trầm tích biển vịnh Hạ Long theo thứ tự ưu tiên: Bảo tồn và bảo vệ tài nguyên vị thế- tài nguyên du lịch- sinh thái, bảo vệ môi trường, phát triển du lịch và nuôi trồng thủy sản

- Định hướng khai thác và sử dụng hợp lý trầm tích biển cửa sông Ba Lạt theo thứ tự ưu tiên: Bảo tồn và bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển du lịch và nuôi trồng thủy sản, khai thác vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát san nền nhưng quy mô, vị trí cần phải đánh giá tác động MT và đánh giá tác động MT chiến lược

- Định hướng khai thác và sử dụng hợp lý trầm tích biển vịnh Đà Nẵng theo thứ tự ưu tiên: Bảo tồn và bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển du lịch, xây dựng khu đô thị lấn biển và khai thác vật liệu xây dựng.

- Định hướng khai thác và sử dụng hợp lý trầm tích biển vịnh Rạch Giá theo thứ tự ưu tiên: bảo tồn và bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.

- Định hướng khai thác và sử dụng hợp lý trầm tích biển vịnh Bảy Háp theo thứ tự ưu tiên: Bảo tồn và bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển du lịch và nuôi trồng thủy sản, khai thác vật liệu xây dựng có quy mô thích hợp.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.