Nuôi tôm sú thâm canh đạt hiệu quả kinh tế ở Bình Thuận
Chuẩn bị ao nuôi: Ao nuôi rộng 3000m 2, trước khi thả giống 20 ngày, tiến hành tháo cạn nước, làm vệ sinh đáy, vét bùn nhão. Dùng máy khuấy và xả nước, cày đáy, bón 500kg vôi. Sau khi phơi đáy ao từ 4-7 ngày thì cấp nước vào ao. Nước được bơm vào ao nuôi từ ao lắng qua máy bơm sử dụng lưới lọc.
Diệt cá tạp bằng Saponin liều lượng 30kg/3000m 2. Sau 3 ngày khử trùng nước bằng iốt-200 và tiến hành gây màu nước. Sau 15 ngày kiểm tra lại các yếu tố môi trường như pH, độ mặn, độ kiềm, độc tố cho phù hợp và tiến hành thả giống.
Chọn và thả giống: Chọn giống đã kiểm tra bằng phương pháp PCR và mô học. Khi vận chuyển đến ao nuôi, ngâm bao tôm dưới ao khoảng 15 phút để cân bằng nhiệt độ giữa bên trong bao tôm và ao nuôi. Thả tôm vào 6 giờ sáng với số lượng 90.000 con PL15, mật độ thả 30 con/m 2.
Chăm sóc: Trong quá trình nuôi, theo dõi các yếu tố môi trường là việc rất quan trọng.
Thức ăn: Sử dụng thức ăn công nghiệp đảm bảo chất lượng: Novo-6000 và Turbo-8004-S của Công ty CP.
Tháng đầu tiên và tháng thứ hai dùng các loại thức ăn mã số Novo-01 và Novo-02 cho ăn 3 lần/ngày, hệ số thức ăn 1,5.
Từ tháng thứ 3 trở đi cho ăn thức ăn Turbo-8004-S, 4 lần/ngày. Trong quá trình cho ăn có trộn bổ sung các loại vitamin C và chế phẩm sinh học để tăng cường sức khoẻ, khả năng bắt mồi và khả năng kháng bệnh của tôm.
Kiểm tra thức ăn trên vó để điều chỉnh từng bữa cho phù hợp. Thời gian kiểm tra vó như sau: Tháng thứ 2 kiểm tra sau 2,5 giờ cho ăn, tháng thứ 3 sau 2 giờ cho ăn, tháng thứ 4 sau 1,5 giờ cho ăn. Giảm lượng cho ăn khi tôm lột vỏ và tăng lên sau thời gian cứng vỏ.
Quản lý môi trường
Nguồn nước cấp qua ao lắng dược xử lý iốt-200 trước khi cấp vào ao nuôi. Vận hành thiết bị quạt nước tuỳ thuộc vào tháng tuổi của tôm, đảm bảo cung cấp đủ ôxy cho tôm. Trong tháng nuôi đầu tiên, không thay nước mà chỉ thêm nước để bù vào lượng nước bốc hơi và thẩm thấu. Những tháng sau, thay nước 2-3 lần/tháng, mỗi lần thay 20-30%. Định kỳ kiểm tra các yếu tố môi trường như pH, độ mặn, độ kiềm, độc tố và mầm bệnh MBV, đốm trắng, đầu vàng để có biện pháp phòng ngừa và xử lý khi cần thiết.
Hoạch toán kinh tế
- Tổng thu: 1.500kg x 80.000 đồng/kg = 120 triệu đồng.
- Tổng chi: 46,64 triệu đồng (công cải tạo ao 0,84 triệu đồng, hoá chất xử lý 8,2 triệu đồng, thuốc phòng trị bệnh 4 triệu đồng, tôm giống 90.000 x 60 đồng/con = 5,4 triệu đồng, thức ăn 1.225kg x 16.000 đồng/kg = 19,6 triệu đồng, công chăm sóc 5 triệu đồng, năng lượng nhiên liệu 0,6 triệu đồng, khấu hao tài sản 2 triệu đồng, vật rẻ mau hỏng 0,5 triệu đồng, chi phí khác 0,5 triệu đồng).
Lãi 73,36 triệu đồng.
Qua quá trình nuôi, bà Nga rút ra một số kinh nghiệm: Muốn nuôi tôm đạt hiệu quả cần cải tạo ao đúng kỹ thuật, nguồn nước trước khi lấy vào ao phải được xử lý kỹ. Chọn giống tốt, thả nuôi đúng mùa vụ và chỉ nuôi một vụ trong năm. Kiểm tra các yếu tố môi trường phù hợp, cho ăn thức ăn công nghiệp chất lượng cao. Dùng thuốc bổ và thuốc phòng trị bệnh hợp lý, định kỳ kiểm tra mầm bệnh MBV, đốm trắng, đầu vàng và các yếu tố môi trường của nguồn nước để có biện pháp điều chỉnh và xử lý kịp thời.
Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 52 (486), 26/12/2005, tr 13








