Những biến chứng nguy hiểm của bệnh đái tháo đường
Biến chứng trên thận
Đây là những tổn thương của các mạch máu nhỏ do hậu quả của bệnh đái tháo đường mà không kiểm soát được, từ đó, nó làm giảm chức năng của quả thận. Bệnh thận ở người mắc bệnh đái tháo đường thật sự trở nên trầm trọng khi HbA 1c cao hơn 7% trong nhiều năm liền mà không có biện pháp kiểm soát. Khi bệnh đái tháo đường có xu hướng tiến triển xấu thì các chức năng của thận bị suy giảm nhiều hơn mà sự suy giảm này khó có thể khắc phục được chẳng hạn như chức năng lọc của nó. Khi đó trên kết quả xét nghiệm sinh hóa máu cho ta thấy creatinin và urê tăng cao, đây là một dấu hiệu rất xấu ở người đái tháo đường hay còn gọi là hội chứng tăng ure huyết. Lâu ngày sẽ dẫn tới suy giảm chức năng của thận càng trầm trọng. Ở những người kiểm soát tốt đường huyết và nồng độ HbA 1c luôn nhỏ hơn 7% sẽ ít khi xảy ra tình trạng bệnh lý thận do đái tháo đường. Tuy nhiên, để hạn chế sự tổn thương chức năng cầu thận hiện nay, captopril và enalapril luôn được khuyến cáo nên dùng nó cho người đái tháo đường vì nó có thể khắc phục những vi tổn thương của các mạch máu nhỏ và góp phần làm ổn định huyết áp ở người có huyết áp cao.
Bệnh lý võng mạc
Tổn thương mắt ở những người mắc bệnh đái tháo đường mà không kiểm soát được đường huyết gọi là bệnh lý võng mạc do đái tháo đường. Võng mạc mắt là vùng chịu nhiều ảnh hưởng bởi sự thay đổi của các mạch máu, vì thế cho nên có thể phát hiện trực tiếp hình thái này qua thủ thuật soi đáy mắt. Khi đó còn có thể nhìn thấy sự thay đổi của các mạch máu lớn như việc tăng sinh của các mạch máu hay còn gọi là phù võng mạc. Bệnh võng mạc do đái tháo đường ở người mắc bệnh đái tháo đường mà không kiểm soát được đường huyết là một trong số nhũng nguyên nhân gây mù lòa hiện nay. Trong điều trị bệnh đái tháo đường, việc kiểm soát đường huyết là rất quan trọng nhưng việc theo dõi và kiểm soát thật tốt đường huyết phải gắn chặt với việc theo dõi và kiểm soát nồng độ HbA 1c trong máu, giá trị của nó luôn luôn nhỏ hơn7%, thì có thể sẽ không bao giờ bị mù do bệnh lý võng mạc được.
Bệnh thần kinh
Tổn thương thần kinh ở người mắc bệnh đái tháo đường được gọi là bệnh thần kinh do đái tháo đường. Khi những động mạch nhỏ cung cấp dinh dưỡng cho hệ thống thần kinh trong cơ thể bị tổn thương do hậu quả từ bệnh đái tháo đường không kiểm soát được. Chúng bao gồm các loại như sau:
- Bệnh đa dây thần kinh:khi những dây thần kinh giác quan bị ảnh hưởng thường có những biểu hiện rối loạn hay mất cảm giác ở cả chi trên lẫn chi dưới theo kiểu mang vớ (tất). Bệnh lý này có thể dẫn tới những tổn thương như chấn thương hay những vết thương như bỏng hay bị loét, vì người bệnh không cảm giác được đau đớn, và được gọi là loét bàn chân do đái tháo đường. Tuy nhiên, loét ban chân do đái tháo đường ngày nay có xu hướng giảm vì kỹ thuật chăm sóc đang được người bệnh rất quan tâm. Ở những người bị loét và hoại tử nhiều vì việc xử lý còn tùy thuộc vào khả năng của bàn chân có phục hồi hay không, nhất là trong trạng thái viêm tấy mạch máu trong hoại tử thì việc cắt cụt chi là biện pháp cuối cùng.
- Bệnh đơn dây thần kinh:là một bệnh lý tạo cho người bệnh cảm giác tê dần rồi châm chích như có vật sắc nhọn đang đâm vào, bởi sự cung cấp máu tới các dây thần kinh bị ngắt quãng thình lình tạo nên sự nhồi máu trên dây thần kinh.
- Bệnh ở hệ thần kinh tự chủ:hệ thần kinh tự chủ bao gồm hệ thần kinh giao cảm và hệ thần kinh phó giao cảm, trong bệnh lý này sẽ tạo ra sự mất hoặc giảm cảm giác ở người đái tháo đường, bởi do có sự tăng đường huyết, từ đó gây nên những tổn thương của hệ thần kinh tự chủ. Khi tổn thương hệ thần kinh tự chủ sẽ gây ra những ảnh hưởng như làm gia tăng số nhịp đập của tim, làm cho người bệnh dễ tụt huyết áp tư thế hay chứng huyết áp thấp gây nên chứng choáng váng trong việc thay đổi tư thế ngồi chuyển sang đứng và ảnh hưởng lên hệ tiêu hóa như chúng gây nên những xáo trộn, mà bình thường sẽ được điều chỉnh bởi hệ thần kinh này. Người bệnh luôn có sự than phiền về các triệu chứng như đau nhức, làm cho người bệnh khó chịu hay chứng ăn chậm tiêu và nhất là dấu hiệu tiểu rắt hay tình trạng rối loạn chức năng bàng quang hay còn gọi là bàng quang thần kinh. Về ruột, người bệnh có thể bị rối loạn nhu động ruột vì thế rất thường bị tiêu chảy hoặc táo bón.








