Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 19/01/2011 17:53 (GMT+7)

Nhìn lại 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn

Nhìn lại 10 năm thực hiện

Sau gần 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn, Việt Nam có những tiến bộ lớn lao, bộ mặt nông thôn đã thay đổi, tạo điều kiện tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sống của người dân nông thôn.

Hiệu quả xã hội là rất lớn, ngưòi dân có nguồn nước tương đối sạch để sử dụng, chất lượng nước cũng như khối lượng nước phục vụ cho sinh hoạt ngày một tốt hơn và ở một số nơi đã đáp ứng được nhu cầu, đời sống người dân được cải thiện, góp phần vào phát triển kinh tế. Đặc biệt, sự chuyển biến của Đảng, của chính quyền về nhận thức trách nhiệm và tầm quan trọng của NS&VSNT được nâng cao, bệnh tật giảm rõ rệt, những tỉnh như Tiền Giang, Lào Cai trước đây thường xuất hiện các bệnh sốt rét, bệnh đường ruột như: tiêu chảy, kiết lỵ, nhưng hiện nay rất ít, chỉ còn tồn tại bệnh sốt xuất huyết (trung bình từ 500 - 1.000 ca/năm).

Các thể chế chính sách, nhìn chung, từ Trung ương đến các địa phương, trong 10 năm qua, đã có nhiều văn bản pháp quy liên quan đến các thể chế chính sách về cấp nước và vệ sinh nông thôn. Để đạt được kết quả của việc thực hiện mục tiêu chiến lược từ Bộ NN&PTNT và UBND các tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban ngành, UBND các địa phương phối hợp thực hiện các thể chế, cơ chế, chính sách, giải pháp thực hiện:

Xoá bỏ tình trạng đói nghèo cùng cực: Có nước và các điều kiện vệ sinh là yếu tố quyết định đối với đói nghèo. Các kết quả đánh giá cho biết, do nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường (VSMT) được cải thiện rõ rệt, nên tiết kiệm thời gian đi xa để lấy nước, tăng cường sức khoẻ và có nhiều điều kiện sản xuất nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Phổ cập giáo dục tiểu học. Trẻ em, nhất là trẻ em gái ở các vùng xa xôi hẻo lánh và miền núi có thể không được đi học do phải đi lấy nước, hoặc do sức khoẻ yếu mà nguyên nhân chính là không có nước sạch và thiếu vệ sinh. Kết quả giáo dục có thể tăng đáng kể nếu kiểm soát được những bệnh trưyền nhiễm, ký sinh trùng do thiếu vệ sinh. Trường học thiếu điều kiện vệ sinh cũng là yếu tố cản trở nhiều trẻ em (nhất là trẻ em gái) đến trường.

Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Cải thiện điều kiện tiếp cận nguồn nước sạch đã giúp giảm bớt gánh nặng lấy nước cho phụ nữ. Điều kiện vệ sinh an toàn cũng có nghĩa là phụ nữ ít bị lây nhiễm bệnh. Phụ nữ sẽ được giảm bớt gánh nặng trực tiếp liên quan đến sức khỏe cũng như những gánh nặng chi phí khi phải chăm sóc người ốm trong gia đình. Cải thiện nguồn nước đã tăng cường sự kiểm soát của phụ nữ đối với vườn rau và chuồng gia súc tại nhà, vốn là những nguồn dinh dưỡng quan trọng

Và nguồn thu nhập tiềm năng của gia đình

Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em: Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi. Hạn hán, lũ lụt là những nhân tố quan trọng gây ra nạn đói và ảnh hưởng đến những người chỉ biết trông chờ vào đàn gia súc để giảm bớt tác động. Lũ quét, ngập úng kéo dài nếu thiếu điều kiện vệ sinh dẫn đến tình trạng dễ mắc phải các bệnh liên quan đến nguồn nước và vệ sinh môi trường, đặc biệt ở lứa luổi chưa đến trường.

Cải thiện sức khoẻ bà mẹ: Có nước sạch và điêu kiện vệ sinh đầy đủ có thể bảo vệ phụ nữ mang thai khỏi các nguy cơ gây nguy hiểm đến tính mạng trước, trong và sau khi sinh nở.

Những hạn chế:

1. Trải qua 10 năm thực hiện Chiến lược cho thấy Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn đang đối mặt với các thách thức như quá chú trọng tới việc đạt được các mục tiêu đã đề ra mà chưa chú ý đúng mức đến chất lượng và hiệu quả; Các vấn đề về thể chế sự tham gia không chặt chẽ của các bộ, ngành. Việc tách bạch giữa quản lý nhà nước và kinh doanh chưa rõ ràng; Các quan hệ phối hợp điều phối hoạt động giữa các ban, ngành của các địa phương còn rời rạc; Chưa huy động được sự tham gia của khối tư nhân do còn vướng nhiều thủ tục pháp lý và các hoạt động giám sát đánh giá vẫn còn yếu; Quá trình và hiệu quả của thông tin, giáo dục truyền thông còn nhiều hạn chế, nhất là đối với các khu vực người dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa.

Tỷ lệ dùng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, theo các nguồn báo cáo khác nhau đều có sự khác nhau, giữa các cơ quan quản lý Nhà nước ở cấp Trung ương (Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT,...) cũng như các cơ quan trong từng tỉnh như Sở Tài Nguyên và Môi trường và Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường của tỉnh.

Theo Bộ NN&PTNT, tỷ lệ số dân nông thôn được tiếp cận nước sạch đã tăng từ 32% năm 1998 lên 67% nãm 2007. Trong khi đó, Báo cáo điều tra chất lượng nước sinh hoạt nông thôn Việt Nam do Bộ Y tế thực hiện trong thời gian 2007, thì tính đến năm 2006 chỉ có 15,6% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y tế ban hành (theo QĐ 09/2005/QĐ-BYT). Theo số liệu của Bộ NN&PTNT năm 2009, cấp nước cho hộ gia đình đạt 79% nhưng theo Bộ Y tế chỉ là 45-50%, cấp nước cho cơ sở công cộng khoảng 70%.

2. Vấn đề phân định khu vực nông thôn và thành thị chưa thật rõ ràng và thống nhất đã dẫn đến tình trạng thiếu chính xác khi thống kê và tính toán chỉ tiêu mà Chiến lược đã đề ra. Tiến trình phát triển đô thị trong thời gian qua khá nhanh, nhiều thị trấn của huyện đã được phân loại và thống kê là đô thị loại 5. Theo qui định của Tổng cục Thống kê, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội ở đô thị loại 5 đều được thống kê và công bố hàng năm dựa theo phân định nông thôn và thành thị được qui định ở Nghị định 72/2001/NĐ-CP. Trong khi đó, phạm vi cấp nước nông thôn theo qui định của QĐ 104/TTg bao gồm cả các thị trấn (đô thị loại 5). Nhưng trên thực tế, có tỉnh đã đặt nhiệm vụ cấp nước đô thị loại 5 thuộc phạm vi cấp nước đô thị và giao cho Sở Xây dựng đảm nhiệm. Có tỉnh lại đặt nhiệm vụ cấp nước đô thị loại 5 thuộc phạm vi cấp nước nông thôn và giao cho Sở NN&PTNT và NTP2 đảm nhiệm. Từ đó, thống kê dân số và diện tích ở khu vực nông thôn được sử dụng giữa các tỉnh cũng chưa thống nhất. Tình hình đó đã ảnh hưởng đến những số liệu thống kê về số dân nông thôn, ảnh hưởng đến độ chính xác và độ tin cậy ở các số liệu đã công bố về số người được cấp nước sạch ở khu vực nông thôn.

3. Do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, các nguồn nước mặt và nước ngầm trở nên khan hiếm, ở miền núi diện tích rừng bị thu hẹp, nguồn sinh thủy cạn kiệt, ở các vùng đồng bằng, nước ngầm bị mặn hóa, nước mặt lấy từ các sông thường bị ô nhiễm do rác thải vứt bừa bãi dọc theo sông.

4. Ở tất cả các địa phương, quy hoạch nông thôn không có nên nhiều khi đường ống bị đào bới nhiều lần và chuyển vị trí mỗi khi xã, thôn có trỉển khai một công trình khác nào đó. Công tác quy hoạch ban đầu hạn chế, quy mô công trình ban đầu rất nhỏ, nhu cầu vế nườc sạch gia tăng, các công trình cũ quá tải, đôi hỏi phải chuyển sang cấp nước tập trung, phá những trạm cấp nước cũ xuống cấp, phải thay đổi thiết kế, như vậy rất tốn kém, các đia phương, các trạm cấp nước không đủ kinh phí để đáp ứng nhu cầu này. Tuy biện pháp tiếp cận và các mục tiêu của Chiến lược quốc gia là phù hợp nhưng việc thực hiện các nguyên tắc này trên thực tế lại thiếu nhất quán. Do đó, không đạt được mục tiêu đề ra của Chiến lược.

Tỷ lệ bao phủ nhà tiêu hơp vệ sinh cũng không đạt được mục tiêu của Chiến lược ở cả hộ gia đình và những nơi công cộng. Tính đến hết năm 2009, số liệu của Bộ NN&PTNT là 79%. Theo Bộ Y tế là 57,9% và theo đánh giá của nhà tài trợ DANlDA là 45 - 50 %. Nguyên nhân là do: Trong 4 biện pháp chính được đề xuất để thực hiện Chiến lược Thông tin - giáo dục - Truyền thông và tham gia của cộng đồng; Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực; Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn; và Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp còn nhiều hạn chế. Nhận thức của các cấp quản lý và cộng đồng còn thấp, thói quen không sử dụng nhà vệ sinh còn nặng. Phần lớn chính quyền địa phương (UBND xã) và các ban, ngành thường coi trọng cấp nước, coi nhẹ công tác VSMT, tuyệt đại đa số xã chưa có quy hoạch bãi đổ rác, dân tự chôn lấp không có hướng dẫn và họ cảm nhận chưa thật bức bách, mà không hiểu rằng VSMT kém sẽ ảnh hưởng đến nguồn nước cấp, nhất là nhiều tỉnh vùng đồng bằng và miền núi sử dụng rất nhiều các nguồn nước mặt. Điều tra của Cục Y tế Dự phòng, kết hợp với Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng cấp nước và vệ sinh môi trường năm 2008 cho thấy, nhìn chung tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu là 47,3%, nhiều nhất vẫn là nhà tiêu tự hoại (28,7%). Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu không hợp vệ sinh hoặc không có nhà tiêu còn rất cao, cao nhất là Sơn La (71%), tiếp đến là Đồng Tháp và Vĩnh Long (61%), thấp nhất là Nghệ An (36%) và Phú Thọ (34%). Theo đánh giá của Cục Y tế Dự phòng và Môi trường thì tỷ lệ nhà tiêu hơp vệ sinh theo các nguồn có sự khác biệt rất lớn có thể do áp dụng phương pháp đánh giá khác nhau và các tiêu chuẩn vệ sinh sử dụng trong đánh giá chưa thống nhất. Bộ Y tế chỉ quy định có 4 loại nhà tiêu hợp vệ sinh, nhưng trong thực tế có nhiều loại nhà tiêu khác cũng hơp vệ sinh nhưng không được thống kê vì không đúng quy định. Trong báo cáo kết quả công tác của đoàn đánh giá chính phủ và các nhà tài trợ về cấp nước và vệ sinh và sức khoẻ nông thôn, do Viện Môi trường Stockholm (Stockholm Environment lnstituie -SEl) tiến hành tháng 5/2005 cho biết: tình hình vệ sinh ở tầng lớp dân nghèo còn kém hơn nhiều so với các hộ có thu nhập trung bình hoặc cao. Tỷ lệ dân cư có điều kiện vệ sinh cải thiện trên cả nước chỉ chiếm được 1/3 tổng số dân. Tỷ lệ này còn xa so với tỷ lệ quốc gia đặt ra trong tương lai cho lĩnh vực vệ sinh.

Việc phát triển và tiếp thị các loại công nghệ vệ sinh thích hợp, các phương án nhà tiêu chi phí thấp cho hộ gia đình, các loại hình công nghệ nhà tiêu trường học thích hơp cho khu vực ngập lũ, cho những vùng khó khăn chưa kịp thời. Nhiều trường học được Bộ xây dựng thiết kế thi công rất khang trang, nhưng trong thiết kế lại không có nhà vệ sinh, mà trách nhiệm này lại thuộc chính quyền địa phương, kèm theo đó việc xử lý chất thải an toàn, đặc biệt, công nghệ xử lý nước thải chi phí thấp và bền vững cho các làng nghề còn rất hạn chế.

Thiếu một kế hoạch tổng thể cho công tác truyền thông. Công tác tổng kết, đánh giá hiệu quả không thường xuyên. Hoạt động truyền thông mới chỉ cung cấp thông tin hoặc nhận thức mà chưa có biện pháp ràng buộc cụ thể để thay đổi hành vi.

Tình hình chung về công trình NS &VS là sau khi xây dựng, một số lượng lớn các công trình cấp nước tập trung vận hành không hết công suất, hoặc vận hành kém hiệu quả. Do chất lượng xây dựng kém; Thiết kế chưa phù hợp; Quản lý kém: Giá nước thấp và không có vốn hỗ trợ; Thiếu sự tham gia của cộng đồng vào quá trình lập kế hoạch dẫn tới tính sở hữu không rõ và không tương xứng giữa nhu cầu và đầu tư. Thiếu hoạt động truyền thông và trình độ kỹ thuật tại địa phương còn hạn chế. Ở nhiều chợ nông thôn, nhà vệ sinh được xây dựng nhưng công tác quản lý kém, không làm vệ sinh thường xuyên, bẩn và không sử dụng được.

Chính vì vậy, chiến lược NS&VSNT cần điều chỉnh lộ trình các mục tiêu cụ thể phù hơp với vùng miền và có cơ chế riêng đối với vùng đất chật người đông, nhiều làng nghề, vùng ven biển, vùng núi chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, vùng sâu vùng xa, vùng núi đá vôi khan hiếm nước, không đặt chỉ tiêu cụ thể cho cả nước mà đặt chỉ tiêu cho từng vùng, từng miền khác nhau. Bởi vì các mục tiêu của Chiến lược là pháp lệnh nhưng phải theo vùng miền, những nơi thuận lợi về nguồn nước có thể đạt chỉ tiêu 85% hoặc hơn, những nơi khó khăn mục tiêu thấp hơn nhưng cộng lại trong 1 tỉnh và trên phạm vi toàn quốc vẫn là 85%. Đó cũng là nguyên nhân tại sao các chỉ tiêu về NS&VSNT không đạt.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.