Nhìn lại 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn
Nhìn lại 10 năm thực hiện
Sau gần 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn, Việt Nam có những tiến bộ lớn lao, bộ mặt nông thôn đã thay đổi, tạo điều kiện tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sống của người dân nông thôn.
Hiệu quả xã hội là rất lớn, ngưòi dân có nguồn nước tương đối sạch để sử dụng, chất lượng nước cũng như khối lượng nước phục vụ cho sinh hoạt ngày một tốt hơn và ở một số nơi đã đáp ứng được nhu cầu, đời sống người dân được cải thiện, góp phần vào phát triển kinh tế. Đặc biệt, sự chuyển biến của Đảng, của chính quyền về nhận thức trách nhiệm và tầm quan trọng của NS&VSNT được nâng cao, bệnh tật giảm rõ rệt, những tỉnh như Tiền Giang, Lào Cai trước đây thường xuất hiện các bệnh sốt rét, bệnh đường ruột như: tiêu chảy, kiết lỵ, nhưng hiện nay rất ít, chỉ còn tồn tại bệnh sốt xuất huyết (trung bình từ 500 - 1.000 ca/năm).
Các thể chế chính sách, nhìn chung, từ Trung ương đến các địa phương, trong 10 năm qua, đã có nhiều văn bản pháp quy liên quan đến các thể chế chính sách về cấp nước và vệ sinh nông thôn. Để đạt được kết quả của việc thực hiện mục tiêu chiến lược từ Bộ NN&PTNT và UBND các tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban ngành, UBND các địa phương phối hợp thực hiện các thể chế, cơ chế, chính sách, giải pháp thực hiện:
Xoá bỏ tình trạng đói nghèo cùng cực: Có nước và các điều kiện vệ sinh là yếu tố quyết định đối với đói nghèo. Các kết quả đánh giá cho biết, do nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường (VSMT) được cải thiện rõ rệt, nên tiết kiệm thời gian đi xa để lấy nước, tăng cường sức khoẻ và có nhiều điều kiện sản xuất nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Phổ cập giáo dục tiểu học. Trẻ em, nhất là trẻ em gái ở các vùng xa xôi hẻo lánh và miền núi có thể không được đi học do phải đi lấy nước, hoặc do sức khoẻ yếu mà nguyên nhân chính là không có nước sạch và thiếu vệ sinh. Kết quả giáo dục có thể tăng đáng kể nếu kiểm soát được những bệnh trưyền nhiễm, ký sinh trùng do thiếu vệ sinh. Trường học thiếu điều kiện vệ sinh cũng là yếu tố cản trở nhiều trẻ em (nhất là trẻ em gái) đến trường.
Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Cải thiện điều kiện tiếp cận nguồn nước sạch đã giúp giảm bớt gánh nặng lấy nước cho phụ nữ. Điều kiện vệ sinh an toàn cũng có nghĩa là phụ nữ ít bị lây nhiễm bệnh. Phụ nữ sẽ được giảm bớt gánh nặng trực tiếp liên quan đến sức khỏe cũng như những gánh nặng chi phí khi phải chăm sóc người ốm trong gia đình. Cải thiện nguồn nước đã tăng cường sự kiểm soát của phụ nữ đối với vườn rau và chuồng gia súc tại nhà, vốn là những nguồn dinh dưỡng quan trọng
Và nguồn thu nhập tiềm năng của gia đình
Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em: Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi. Hạn hán, lũ lụt là những nhân tố quan trọng gây ra nạn đói và ảnh hưởng đến những người chỉ biết trông chờ vào đàn gia súc để giảm bớt tác động. Lũ quét, ngập úng kéo dài nếu thiếu điều kiện vệ sinh dẫn đến tình trạng dễ mắc phải các bệnh liên quan đến nguồn nước và vệ sinh môi trường, đặc biệt ở lứa luổi chưa đến trường.
Cải thiện sức khoẻ bà mẹ: Có nước sạch và điêu kiện vệ sinh đầy đủ có thể bảo vệ phụ nữ mang thai khỏi các nguy cơ gây nguy hiểm đến tính mạng trước, trong và sau khi sinh nở.
Những hạn chế:
1. Trải qua 10 năm thực hiện Chiến lược cho thấy Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn đang đối mặt với các thách thức như quá chú trọng tới việc đạt được các mục tiêu đã đề ra mà chưa chú ý đúng mức đến chất lượng và hiệu quả; Các vấn đề về thể chế sự tham gia không chặt chẽ của các bộ, ngành. Việc tách bạch giữa quản lý nhà nước và kinh doanh chưa rõ ràng; Các quan hệ phối hợp điều phối hoạt động giữa các ban, ngành của các địa phương còn rời rạc; Chưa huy động được sự tham gia của khối tư nhân do còn vướng nhiều thủ tục pháp lý và các hoạt động giám sát đánh giá vẫn còn yếu; Quá trình và hiệu quả của thông tin, giáo dục truyền thông còn nhiều hạn chế, nhất là đối với các khu vực người dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa.
Tỷ lệ dùng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, theo các nguồn báo cáo khác nhau đều có sự khác nhau, giữa các cơ quan quản lý Nhà nước ở cấp Trung ương (Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT,...) cũng như các cơ quan trong từng tỉnh như Sở Tài Nguyên và Môi trường và Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường của tỉnh.
Theo Bộ NN&PTNT, tỷ lệ số dân nông thôn được tiếp cận nước sạch đã tăng từ 32% năm 1998 lên 67% nãm 2007. Trong khi đó, Báo cáo điều tra chất lượng nước sinh hoạt nông thôn Việt Nam do Bộ Y tế thực hiện trong thời gian 2007, thì tính đến năm 2006 chỉ có 15,6% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y tế ban hành (theo QĐ 09/2005/QĐ-BYT). Theo số liệu của Bộ NN&PTNT năm 2009, cấp nước cho hộ gia đình đạt 79% nhưng theo Bộ Y tế chỉ là 45-50%, cấp nước cho cơ sở công cộng khoảng 70%.
2. Vấn đề phân định khu vực nông thôn và thành thị chưa thật rõ ràng và thống nhất đã dẫn đến tình trạng thiếu chính xác khi thống kê và tính toán chỉ tiêu mà Chiến lược đã đề ra. Tiến trình phát triển đô thị trong thời gian qua khá nhanh, nhiều thị trấn của huyện đã được phân loại và thống kê là đô thị loại 5. Theo qui định của Tổng cục Thống kê, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội ở đô thị loại 5 đều được thống kê và công bố hàng năm dựa theo phân định nông thôn và thành thị được qui định ở Nghị định 72/2001/NĐ-CP. Trong khi đó, phạm vi cấp nước nông thôn theo qui định của QĐ 104/TTg bao gồm cả các thị trấn (đô thị loại 5). Nhưng trên thực tế, có tỉnh đã đặt nhiệm vụ cấp nước đô thị loại 5 thuộc phạm vi cấp nước đô thị và giao cho Sở Xây dựng đảm nhiệm. Có tỉnh lại đặt nhiệm vụ cấp nước đô thị loại 5 thuộc phạm vi cấp nước nông thôn và giao cho Sở NN&PTNT và NTP2 đảm nhiệm. Từ đó, thống kê dân số và diện tích ở khu vực nông thôn được sử dụng giữa các tỉnh cũng chưa thống nhất. Tình hình đó đã ảnh hưởng đến những số liệu thống kê về số dân nông thôn, ảnh hưởng đến độ chính xác và độ tin cậy ở các số liệu đã công bố về số người được cấp nước sạch ở khu vực nông thôn.
3. Do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, các nguồn nước mặt và nước ngầm trở nên khan hiếm, ở miền núi diện tích rừng bị thu hẹp, nguồn sinh thủy cạn kiệt, ở các vùng đồng bằng, nước ngầm bị mặn hóa, nước mặt lấy từ các sông thường bị ô nhiễm do rác thải vứt bừa bãi dọc theo sông.
4. Ở tất cả các địa phương, quy hoạch nông thôn không có nên nhiều khi đường ống bị đào bới nhiều lần và chuyển vị trí mỗi khi xã, thôn có trỉển khai một công trình khác nào đó. Công tác quy hoạch ban đầu hạn chế, quy mô công trình ban đầu rất nhỏ, nhu cầu vế nườc sạch gia tăng, các công trình cũ quá tải, đôi hỏi phải chuyển sang cấp nước tập trung, phá những trạm cấp nước cũ xuống cấp, phải thay đổi thiết kế, như vậy rất tốn kém, các đia phương, các trạm cấp nước không đủ kinh phí để đáp ứng nhu cầu này. Tuy biện pháp tiếp cận và các mục tiêu của Chiến lược quốc gia là phù hợp nhưng việc thực hiện các nguyên tắc này trên thực tế lại thiếu nhất quán. Do đó, không đạt được mục tiêu đề ra của Chiến lược.
Tỷ lệ bao phủ nhà tiêu hơp vệ sinh cũng không đạt được mục tiêu của Chiến lược ở cả hộ gia đình và những nơi công cộng. Tính đến hết năm 2009, số liệu của Bộ NN&PTNT là 79%. Theo Bộ Y tế là 57,9% và theo đánh giá của nhà tài trợ DANlDA là 45 - 50 %. Nguyên nhân là do: Trong 4 biện pháp chính được đề xuất để thực hiện Chiến lược Thông tin - giáo dục - Truyền thông và tham gia của cộng đồng; Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực; Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn; và Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp còn nhiều hạn chế. Nhận thức của các cấp quản lý và cộng đồng còn thấp, thói quen không sử dụng nhà vệ sinh còn nặng. Phần lớn chính quyền địa phương (UBND xã) và các ban, ngành thường coi trọng cấp nước, coi nhẹ công tác VSMT, tuyệt đại đa số xã chưa có quy hoạch bãi đổ rác, dân tự chôn lấp không có hướng dẫn và họ cảm nhận chưa thật bức bách, mà không hiểu rằng VSMT kém sẽ ảnh hưởng đến nguồn nước cấp, nhất là nhiều tỉnh vùng đồng bằng và miền núi sử dụng rất nhiều các nguồn nước mặt. Điều tra của Cục Y tế Dự phòng, kết hợp với Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng cấp nước và vệ sinh môi trường năm 2008 cho thấy, nhìn chung tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu là 47,3%, nhiều nhất vẫn là nhà tiêu tự hoại (28,7%). Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu không hợp vệ sinh hoặc không có nhà tiêu còn rất cao, cao nhất là Sơn La (71%), tiếp đến là Đồng Tháp và Vĩnh Long (61%), thấp nhất là Nghệ An (36%) và Phú Thọ (34%). Theo đánh giá của Cục Y tế Dự phòng và Môi trường thì tỷ lệ nhà tiêu hơp vệ sinh theo các nguồn có sự khác biệt rất lớn có thể do áp dụng phương pháp đánh giá khác nhau và các tiêu chuẩn vệ sinh sử dụng trong đánh giá chưa thống nhất. Bộ Y tế chỉ quy định có 4 loại nhà tiêu hợp vệ sinh, nhưng trong thực tế có nhiều loại nhà tiêu khác cũng hơp vệ sinh nhưng không được thống kê vì không đúng quy định. Trong báo cáo kết quả công tác của đoàn đánh giá chính phủ và các nhà tài trợ về cấp nước và vệ sinh và sức khoẻ nông thôn, do Viện Môi trường Stockholm (Stockholm Environment lnstituie -SEl) tiến hành tháng 5/2005 cho biết: tình hình vệ sinh ở tầng lớp dân nghèo còn kém hơn nhiều so với các hộ có thu nhập trung bình hoặc cao. Tỷ lệ dân cư có điều kiện vệ sinh cải thiện trên cả nước chỉ chiếm được 1/3 tổng số dân. Tỷ lệ này còn xa so với tỷ lệ quốc gia đặt ra trong tương lai cho lĩnh vực vệ sinh.
Việc phát triển và tiếp thị các loại công nghệ vệ sinh thích hợp, các phương án nhà tiêu chi phí thấp cho hộ gia đình, các loại hình công nghệ nhà tiêu trường học thích hơp cho khu vực ngập lũ, cho những vùng khó khăn chưa kịp thời. Nhiều trường học được Bộ xây dựng thiết kế thi công rất khang trang, nhưng trong thiết kế lại không có nhà vệ sinh, mà trách nhiệm này lại thuộc chính quyền địa phương, kèm theo đó việc xử lý chất thải an toàn, đặc biệt, công nghệ xử lý nước thải chi phí thấp và bền vững cho các làng nghề còn rất hạn chế.
Thiếu một kế hoạch tổng thể cho công tác truyền thông. Công tác tổng kết, đánh giá hiệu quả không thường xuyên. Hoạt động truyền thông mới chỉ cung cấp thông tin hoặc nhận thức mà chưa có biện pháp ràng buộc cụ thể để thay đổi hành vi.
Tình hình chung về công trình NS &VS là sau khi xây dựng, một số lượng lớn các công trình cấp nước tập trung vận hành không hết công suất, hoặc vận hành kém hiệu quả. Do chất lượng xây dựng kém; Thiết kế chưa phù hợp; Quản lý kém: Giá nước thấp và không có vốn hỗ trợ; Thiếu sự tham gia của cộng đồng vào quá trình lập kế hoạch dẫn tới tính sở hữu không rõ và không tương xứng giữa nhu cầu và đầu tư. Thiếu hoạt động truyền thông và trình độ kỹ thuật tại địa phương còn hạn chế. Ở nhiều chợ nông thôn, nhà vệ sinh được xây dựng nhưng công tác quản lý kém, không làm vệ sinh thường xuyên, bẩn và không sử dụng được.
Chính vì vậy, chiến lược NS&VSNT cần điều chỉnh lộ trình các mục tiêu cụ thể phù hơp với vùng miền và có cơ chế riêng đối với vùng đất chật người đông, nhiều làng nghề, vùng ven biển, vùng núi chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, vùng sâu vùng xa, vùng núi đá vôi khan hiếm nước, không đặt chỉ tiêu cụ thể cho cả nước mà đặt chỉ tiêu cho từng vùng, từng miền khác nhau. Bởi vì các mục tiêu của Chiến lược là pháp lệnh nhưng phải theo vùng miền, những nơi thuận lợi về nguồn nước có thể đạt chỉ tiêu 85% hoặc hơn, những nơi khó khăn mục tiêu thấp hơn nhưng cộng lại trong 1 tỉnh và trên phạm vi toàn quốc vẫn là 85%. Đó cũng là nguyên nhân tại sao các chỉ tiêu về NS&VSNT không đạt.








