Nhiên liệu sinh học thuộc thế hệ thứ hai sẽ không sẵn sàng trước một thập kỷ tới
Nhiên liệu sinh học không còn được đánh giá cao như trước. Ngày 21 – 4 – 2008, Tổng thống Peru Alan Garcia tố cáo chúng đã gây ra cuộc khủng hoảng lương thực hiện tại. Bà Bộ trưởng Đức về hợp tác và phát triển, kêu gọi ngưng sản xuất nhiên liệu từ ngũ cốc cho đến khi cuộc khủng hoảng chấm dứt. Và họ tiếp tục chỉ trích trong một cuộc họp tại Diễn đàn quốc tế về năng lượng ở La Mã.
Các nhà nông nghiệp đã bắt đầu hoàn chỉnh thế hệ thứ hai về nhiên liệu sinh học, căn cứ vào sinh khối (toàn bộ chất hữu cơ) và họ cho rằng loại này có nhiều ưu điểm hơn so với thế hệ thứ nhất. Nếu trên toàn thế giới, những nhà nghiên cứu để tìm tòi về tài nguyên và công nghệ lý tưởng, phải mất một thập kỷ nữa để chuyển sang giai đoạn sản xuất công nghiệp đối với loại nhiên liệu của tương lai này.
Theo Dominique Dron, giáo sư bộ môn chiến lược năng lượng mới của trường Đại học mỏ ở Paris “còn nhiều vấn đề cần được giải quyết”. Tương lai của nhiên liệu sinh học thế hệ hai phụ thuộc vào những câu trả lời cho nhiều câu hỏi.
Sự trông chờ vào sinh khối có thể giúp tránh được hay không sự cạnh tranh với việc trồng trọt lương thực? Đây là một trong những lý do chủ yếu để phát triển thế hệ thứ hai: sử dụng toàn bộ thân cây chứ không chỉ dùng hạt hoặc củ của cây trồng – cho phép tận dụng phần không ăn được của sản phẩm trồng trọt. Sự vắng mặt sự cạnh tranh rõ hơn khi sinh khối có nguồn gốc là gỗ hoặc những phế thải của trồng trọt.
Tuy nhiên, cần lưu ý đến nhiều hạn chế. Hạn chế thứ nhất là cần bảo tồn chất lượng của đất. Theo bà Cathy Neill, nhà nghiên cứu ở trường Đại học Sư phạm: khối lượng chất mùn trong đất giữ vai trò quan trọng đối với độ phì của đất, vấn đề phụ thuộc vào khối lượng chất phế thải của trồng trọt để lại. Tác động lên lượng mùn trong đất không phải không có vấn đề. Ngoài ra, cũng theo bà Cathy, chất mùn có khả năng lưu trữ các bon cao hơn ba lần so với cây trồng. Hạn chế thứ hai: sử dụng gỗ không đưa đến việc phá rừng… nếu không sẽ khiến biến đổi khí hậu trầm trọng hơn.
Hiệu suất của những nhiên liệu công nghiệp thuộc thế hệ thứ hai có đạt yêu cầu?
Theo ông Claude Roy, điều phối viên liên Bộ về Khai thác sinh khối “hiện nay, hiệu suất này rất thấp”. Công nghệ chuyển đổi những phân tử xen-lu-lô của sinh khối đòi hỏi những công nghệ phức tạp, ta cần đẩy mạnh nghiên cứu để đạt yêu cầu về năng suất. Theo Cnuced (Hội nghị LHQ cho thương mại và phát triển) những công nghệ này phức tạp và tốn kém khiến cho các nước phía Nam không thể sở hữu được.
Tác động môi trường có giảm so với thế hệ một?
Câu trả lời phụ thuộc vào phương trình công nghệ nêu trên. Tất cả những người khởi xướng nhiên liệu nông học thế hệ hai có nhấn mạnh là không sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu. Không nên mong chờ bước nhảy của thế hệ hai sẽ làm đảo lộn vị trí của nhiên liệu sinh học trong bảng sắp xếp những giải pháp thay thế năng lượng hóa thạch. Theo Thomas Guille, nhà nghiên cứu ở CIRAD (Trung tâm hợp tác quốc tế nghiên cứu nông nghiệp phát triển), mỗi năm thế giới thải ra 4 tỷ tấn rác nông nghiệp, trong đó chỉ 300 triệu tấn có thể chuyển đổi thành năng lượng.
Nên so sánh con số này với lượng năng lượng sơ cấp sản xuất của thế giới hàng năm là 11 tỷ tấn dầu quy đổi.
Từ vựng:
Nhiên liệu nông học/ nhiên liệu sinh học:chế biến từ sinh khối, tức là từ chất hữu cơ.
Nhiên liệu sinh học thuộc thế hệ thứ nhất:chế biến từ chất thảo mộc do nông nghiệp sản xuất (củ cải đường, lúa mì, bắp, cải dầu, hướng dương, mía). Những cây này cạnh tranh với sản xuất lương thực.
Nhiên liệu nông học thuộc thế hệ thứ hai:sẽ được chế biến từ chất xen-lu-lô và chất li-nhin, chứa trong gỗ hoặc trong phần không ăn được của thảo mộc. Hướng nghiên cứu: tảo hoặc khai thác sinh học của rác.








