Nhân sâm & ung thư
Khoảng 15 thử nghiệm trên thú vật chứng minh trích tinh Sâm và saponin từ Sâm có thể làm giảm sự phát triển của bướu ung thư, làm chậm tiến trình di căn và giúp tăng thời gian sinh tồn. Hoạt tính này được xem là do các chất biến dưỡng từ các saponin hơn là do bản thân các saponin ấy.
Ở Trung Quốc, có 4 nghiên cứu được thử trên người tại các bệnh viện, dùng trích tinh Sâm phối hợp với các dược thảo khác, để trợ lực thêm cho việc điều trị ung thư bằng hoá dược.
Đại cương về nhân sâm
Nhân sâm từ 3.000 năm trước, rất thông dụng trong dược học Đông Phương, được xếp vào loại thuốc bổ khí. Các hoạt chất chính của Sâ, là những sapomin loại ginesensid. Ít nhất có 28 loại ginsenosid đã được xác định, nhưng tất cả đều có thể tập trung trong 3 nhóm Ro, Rb và Rg. Hàm lượng của các saponin đó tổng cộng chừng 3,8%, trong củ Sâm 4 tuổi lần lượt là 0,4; 2,3 và 1,1%. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu khác trên các mẫu Sâm lấy từ các cửa hàng thuốc Bắc tại Đài Loan thì hàm lượng tổnt cộng saponin trung bình khoảng 1,6%.
Ngoài các saponin, Nhân sâm còn chứa một polysaccharid có phân tử lượng cao là ginsan có hoạt động tính kích thích sự hoạt đônọg của hệ miễn dịch, và một alcohol (panaxytriol) có khả năng gây nghịch đảo các hiệu ứng diệt bào chống lại một số dòng tế bào ung thư ở nồng độ 45 microM. Panaxatriol còn có hoạt tính làm giảm tăng trưởng của tế bào ung thư loại melanma nơi chuột khi chích bắp thịt liều 40 mg/kg.
Các nghiên cứu dược lực học đã ghi nhận Nhân sâm có một số tác đọng trên người và thú vật bao gồm: chống kích xúc, kích thích hệ miễn dịch, chống mỏi mệt, cải thiện trí nhớ, ức chế sự kết tụ tiểu cầu và điều hợp hệ nội tiết.
Các hoạt tính trị liệu của Sâm có thể tóm tắt như sau:
- Chống lại sự xâm nhập và lan tràn của tế bào ung thư (di căn).
- Ức chế sự chuyển di của tế bào.
- Ức chế sự kết tụ tiểu cầu.
- Kích ứng hoạt động của hệ miễn nhiễm.
Ngoài các hoạt tính gián tiếp kể trên, các saponin trong Sâm, đặc biệt nhất là một chất biến dưỡng từ saponin, gọi là M1, có thể có hoạt tính diệt bào trực tiếp trên một số dòng tế bào ung thư.
Có khá nhiều thử nghiệm “ in vitro” ghi nhận các ginsenosid ức chế được sự bội sinh và sự xâm nhập của một số tế bào ung thư ở những nồng độ khá thấp tưf 10 đến 180 microM. Chất M1 có hiệu ứng ngay ở một nồng độ thấp hơn nữa (khoảng 1/5) và có hoạt tính rộng hơn. Dựa trên các số liệu thử nghiệm thì M1 làm giảm bội sinh và chống sự xâm nhập của 6 dòng tế bào ung thư khác nhau ơ rnồng độ trung bình 25 microM. Các tế bào bình thường chỉ bị ảnh hưởng ở nồng độ cao hơn 130 microM.
Dịch chiết từ Sâm cũng ức chế sự tăng trưởng của bướu ung htư nơi thú vật: nồng độ saponin trong các dịch chiết này không được xác định rõ rệt. Nhưng nếu tính theo các thông số trung bình là 30%, thì lượng tương đương, khi áp dụng cho người, đối chiếu với liều 500 mg/kg nơi chuột, thì khoảng 16 gam củ Sâm/ ngày.

Các saponin chiết xuất từ Sâm cũng gây giảm tăng trưởng của bướu và ngăn sự lan tràn của tế bào ung thư nơi thú vật. So với chuột thử nghiệm, liều áp dụng cho người là khoảng 350 mg ginsenosid hay 9,1 gam củ Sâm (kể mỗi củ Sâm chứa chừng 3,8% ginsenosid và tất cả các ginsenosid đều có hoạt tính tương đương). 






