Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 04/11/2009 23:35 (GMT+7)

Nhận diện tục ngữ

Trong suốt mấy năm qua, chúng tôi có thử tiến hành công việc ấy với trên dưới mười sáu nghìn đơn vị được các tác giả Kho tàng tục ngữ người Việt 3 coi là TN và đã thu thập vào công trình này. Những kết quả thu được từ việc duyệt lại ấy còn giúp chúng tôi nhận rõ được hai điểm hệ trọng: (1) không vận dụng các thành quả đáng ngả mũ mà Cao Xuân Hạo đã gặt hái được trong việc khảo sát cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt 4e rất khó nhận diện được TN một cách mau lẹ và hiệu quả vì câu trong TN không lập thức theo mô hình Chủ ngữ - Vị ngữ(như sách vở ngữ pháp chính thống hiện truyền giảng trong nhà trường), mà lập thức theo mô hình Đề ngữ - Thuyết ngữ(hay gọi tắt là D – T), như Cao Xuân Hạo đã từng đề xuất và đã tạo được một tiếng vang nhất định cả trong giới nghiên cứu lẫn trong giới giảng viên không chỉ riêng tại TP. Hồ Chí Minh; (2) cấu trúc cú pháp của các kiểu câu trong TN hầu như chẳng khác gì bao nhiêu so với cấu trúc cú pháp của các kiểu câu mà chúng ta vẫn quen dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.

Tiếp theo, chúng tôi xin lần lượt kê ra từng kiểu câu đã gặp trong kho TN Việt nhằm giúp người đọc có thêm một nguồn tư liệu nữa để tham khảo.

1. Kiểu câu thứ nhất

Là kiểu câu có đầy đủ cả hai phần Đ và T trên cấu trúc bề mặt, chẳng hạn:

(1) Gần mực thì đen; gần đèn thì sáng 5

(2) Én bay thấp mưa ngập bờ ao; én bay cao mưa rào lại tạnh

(3) Vịt già; gà tơ

(4) Thứ nhất thịt bò tái; thứ nhì gái đương tơ

(5) Anh thuận em hoà là nhà có phúc.

Kiểu câu này chiếm tuyệt đối đại đa số trong kho TN (tới 95% trong tổng số!) và cũng là kiểu câu dễ nhận biết hơn hết thảy nhờ vào hai chỉ dấu hình thức: (a) chỉ dấu về trình tự: phần Đ của câu bao giờ cũng đặt ở trước và phần T bao giờ cũng đặt ở sâu; và (b) chỉ dấu về ranh giới: biên giới giữa hai phần ấy bao giờ cũng được (/có thể được) phân định rõ ràng bằng các “ tác từ phân giới”, trong đó hay gặp hơn cả là THÌ 6và LÀ. Xin minh hoạ những điều vừa nói bằng dẫn chứng:

(6) Người có chí thìnên; nhà cò nền thìvững

(7) Ác tắm thìráo; sáo tắm thìmưa

(8) Thâm đông thìmưa; thâm dưa thìkhú; thâm nhũ thìchửa

(9) Thi hơi với giải thìthua

(1) Vàng [thì]gió; đỏ [thì]mưa

(11) Được mùa lúa [thì]úa mùa cau; được mùa cau [thì]đau mùa lúa

(12) Giàu làhọ; khó làngười dưng

(13) Gầy làthầy cơm

(14) Gió thổi làchổi trời

(15) Của rẻ làcủa ôi

(16) Công cấy [là]công bỏ; công làm cỏ [là]công ăn

(17) Con hơn cha [là]nhà có phúc

(18) Tiền ở trong nhà [là]tiền chửa; tiền ra khỏi cửa [là]tiền đẻ.

Xét kĩ cấu trúc cú pháp của loạt câu vừa dẫn còn cho phép chúng ta nghĩ tới một phép thử vừa giản tiện, vừa hữu hiệu giúp nhận biết mau lẹ và thoả đáng các đơn vị TN: muốn biết một biểu thức ngôn từ nào đó do dân gian sáng tác ra có phải là TN hay không, chúng ta hãy thử thêm hoặc là tác từ THÌ, hoặc là tác từ LÀ vào những chỗ thích hợp rồi kiểm định xem biểu thức ấy có còn đúng ngữ pháp Việt nữa không và có còn giữ nguyên được nghĩa vốn có không. Nếu câu trả lời nhận được là “có” thì biểu thức ấy đích thị là TN; có nếu là “không” thì tư cách TN của biểu thức ấy tự khắc sẽ bị bác bỏ.

Chẳng hạn, loạt biểu thức ngôn từ dưới đây:

(19) Chó treo; mèo đậy

(20) Giàu điếc; sang đui

(21) Sống tết; chết giỗ

(22) Áo cứ tràng; làng cứ xã

(23) Ăn no; lo được

(24) Năng nhặt chặt bị

(25) Chiêm hơn chiêm sít; mùa ít mùa nở

(26) Già néo đứt dây

(27) Cơm sống cơm thảo; cơm nhão cơm hà tiện

(28) Mưa tháng ba hoa đất

sở dĩ được mọi người công nhận là TN vì biểu thức nào sau khi thêm THÌ hoặc LÀ vào những chỗ thích hợp cũng đều đúng ngữ pháp Việt và cũng đều không thay đổi những nghĩa vốn có:

(19’) Chó [thì] treo; mèo [thì] đậy

(20’) Giàu [thì] điếc; sang [thì] đui

(21’) Sống [thì] tết; chết [thì] giỗ

(22’) Áo [thì] cứ tràng; làng [thì] cứ xã

(23’) Ăn [thì] no; lo [thì] được

(24’) Năng nhặt [thì] chặt bị

(25’) (Thóc) chiêm (xay ra) [thì] (có thể lợi gạo) hơn (nhưng cơm thổi lên hay bị) sít; (thóc mùa (xay ra) [thì] tuy ít (lợi gạo bằng nhưng cơm thổi lên lại) nở (hơn nhiều)

(26’) Già néo [thì] đứt dây

(27’) Cơm sống [là]cơm thảo; cơm nhão [là]cơm hà tiện

(28’) Mưa tháng ba [là] hoa đất

Còn các biểu thức sau đây sở dĩ không được coi là TN do không “ qua” được phép thử với THÌ và LÀ vì các biểu thức ấy đều trở nên sai ngữ pháp hoặc ngô nghê sau khi thêm THÌ/LÀ:

(29) * Mỏng mày [thì/là] hay hạt

(30) * Ăn ốc [thì/là] nói mò

(31) * Nước mắt [thì/là] lưng tròng

(32) * Lúng túng [thì/là] như thợ vụng mất kim

(33) * Cá đối [thì/là] bằng đầu

5% số câu còn lại, theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, sẽ được chia ra cho mấy kiểu câu sắp đề cập dưới đây.

2. Kiểu câu thứ hai

Kiểu này được Cao Xuân Hạo (1991: 284) gọi là câu “ phàm lệ” vì câu chuyên “nói về những điều được coi là “phi thời gian”, vượt ra ngoài mọi cảnh huống, trong đó phần Đ ẩn mặc thường được hiểu là “ phàm ở đời”; còn phần T thường được biểu thị bằng một ngữ vị từ với trung tâm là các vị từ tình thái “ hãy”, “đừng” (/” chớ”) hay “ nên”, chẳng hạn:

(34) Bán anh em xa, mua láng giềng gần[Nên bán anh em xa đi để còn mua lấy…]

(35) Giữ được người ở, không ai giữ được người đi[Lệ thường chỉ giữ được người muốn ở, chứ làm sao mà giữ nổi kẻ muốn (ra) đi]

(36) Đừng chờm mà có ngày chấn móng

(37) Đừng tham một bát mà bỏ cả mâm

(38) Chớ vì nghẹn một miếng mà bỏ cả bữa ăn; chớ vì ngã một lần mà không dám bước.

Kiểu câu này vừa ít ỏi (chỉ chiếm khoảng 1,5% trong tổng số), vừa khó nhận diện (do không thể vận dụng phép thử với THÌ hoặc LÀ, như đã có thể làm với kiểu câu thứ nhất). Tuy thế, hễ chịu khó xét kỹ từng đơn vị một thì với mấy chỉ dấu hình thức đã nêu ở đầu mục, chúng ta vẫn có thể hoàn thành được công việc mà chẳng hề gặp phải một trở ngại đáng kể nào. Xin dẫn thêm ra đây một số dẫn chứng nữa để minh hoạ cho những điều vừa nói:

(39) Bán gà ngày gió; bán chó ngày mưa[Chớ bán gà…; chớ bán chó…]

(40) Múa rìu qua mắt thợ[Chớ múa rìu…]

(41) Ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên[Lệ thường chỉ nên ép dầu,…; chứ đừng nên ép duyên…]

(42) Chết sông, chết suối, ai chết đuối đọi đèn[Lệ thường chỉ thấy người ta chết đuối trong sông, trong suối, chứ đâu thấy ai chết đuối trong bát dầu vốn được dùng làm đèn]

(43) Bắt người bỏ giỗ, không ai bắt người cỗ bé[Lệ thường người ta chỉ hay bắt lỗi kẻ bỏ cỗ, chứ chẳng thấy ai bắt lỗi…]

(44) Giúp lời, không ai giúp của; giúp đũa, không ai giúp cơm[Lệ thường chỉ thấy người ta giúp lời, chứ đâu thấy ai giúp của…]

(45) Làm khi lành để dành khi đau[Nên làm khi khoẻ mạnh để còn có cái mà ăn khi ốm đau]

(46) Làm thấy nuôi vợ; làm thợ nuôi miệng[Nên làm thầy vì còn nuôi được vợ; chớ có làm thợ vì chỉ nuôi được miệng mà thôi]

(47) Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo

(48) Chớ dung kẻ gian; chớ oan người ngay

(49) Chớ thấy đỏ mà ngỡ là chín

(50) Đừng tham ăn nhiều mà nuốt khó trôi

(51) Đừng khinh khó [=nghèo]; chớ cậy giàu.

3. Kiểu câu thứ ba

Là kiểu câu khuyết hẳn phần T, nên trên cấu trúc bề mặt chúng ta chỉ còn gặp có phần Đ. Phần Đ trong những câu kiểu này thường được biểu hiện dưới hai dạng có cấu trúc cú pháp khác nhau chút đỉnh:

(a) dạng do một ngữ danh từ / ngữ vịtừ biểu thị, chẳng hạn:

(52) Chim; thu; nhụ; đẻ

(53) Ruồi vàng; bọ chó; gió Than Uyên

(54) Lá rau muống; cuống rau giền

(55) Cơm nhà; gà chợ

(56) Đau đẻ; ngứa ghẻ; hờn ghen;

(b) dạng do một tiểu cúbiểu thị, chẳng hạn:

(57) Cơm chín tới; cải ngồng non; gái một con; gà gại ổ

(58) Lợn (nhốt trong) chuồng chái; gái (thấp thoáng trước) cửa buồng

(59) Gà lấm lưng; chó sưng đồ

(60) Gà luộc lại; gái ngủ ngày

(61) Gái thở dài; trai nằm sấp

(62) Làm không chúa (=chủ); múa không trống

(63) Lớn chuối hột; bé hạt tiêu

(64) Gái thương chồng đương đông buổi cợ; trai thương vợ nắng quái chiều hôm 7

(65) Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống

(66) Gái còn son không bằng tô don Vạn Tượng.

Khác với kiểu câu thứ hai, kiểu này chiếm một tỉ lệ cao hơn chút đỉnh (vào khoảng hơn 3,5%) và cũng dễ nhận diện hơn chút đỉnh một khi chúng ta vừa tiến hành xác lập cấu trúc cú pháp, vừa tiến hành diễn giải ngữ nghĩa cùng lúc.

4. Kiểu câu thứ tư

Đây là kiểu câu ít gặp hơn hết thảy trong kho TN Việt vì cho tới hiện thời, chúng tôi chỉ mới dò tìm được vẻn vẹn vài ba câu mà thôi:

(67) Ráng mỡ gà , ai có nhà thì chống

(68) Bạc tỉnh Tuyên [Quang] , ai có duyên thì được

(69) Cơm hàng, cháo chợ , ai lỡ thì ăn

(70) Chim trời, cá nước , ai được thì ăn.

Cao Xuân Hạo gọi đây là câu ngoại đề(còn ba kiểu câu vừa mô tả là câu nội đề) vì bên cạnh phần nội đề(trong mấy câu vừa dẫn đều do “ ai ” diễn đạt), câu còn có một phần Đ nữa gọi là ngoại đề(phần được gạch chân trong dẫn chứng vừa nêu). Phần này vốn không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu mà có thể dễ dàng tách ra thành một câu riêng, vì nó chỉ gắn bó với phần câu còn lại về mặt nghĩa (chứ chẳng phải về cú pháp!), chẳng hạn:

(70’) Chim trời, cá nước ấy mà (có phải của riêng ai đâu mà cứ muốn giữ lấy). (Bởi thế) ai bắt được thì kẻ ấy được quyền ăn.

Tỉ lệ quá ít ỏi của kiểu câu này có thể cho phép chúng ta mạnh dạn bỏ qua một khi chúng ta không quá duy mĩ; không coi trọng quá đáng tính toàn bích của bức tranh muốn phác hoạ.

___________

1Chẳng hạn, như:

- Việt Nam văn học sử yếu: (Tục ngữ là) “một câutự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì” (Dương Quảng Hàm 1943 (1951: 15) (dẫn theo Triều Nguyên 2006: 19);

- Tục ngữ - ca dao – dân ca Việt Nam : [Tục ngữ là] “một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán. […] tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng phải là một câuhoàn chỉnh” (Vũ Ngọc Phan 1956 [1978]: 36 – 37) (dẫn theo Triều Nguyên 2006: 19);

- Từ điển tiếng Việt: (Tục ngữ là những) “ câungắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết những tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân” (Hoàng Phê cùng các cộng sự 1988 [2005]: 1062).

2Khi loại bớt các biểu thức ngôn từ do dân gian sáng tác ra chưa thành câu, chúng ta cũng cần loại luôn cả những biểu thức đã thành câu nhưng được ghi lại dưới dạng thơ lục bát, như:

Lúa mùa thì cấy cho sâu / Lúa chiêm thì gãy cành dâu là vừa

Thế gian dại lắm, chưa không / Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành

Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà / Trong ba việc ấy thật là khó thay

Chồng cô, vợ cậu, chồng dì / Trong ba người ấy chết thì không tang

Ăn được ngủ được là tiên / Không ăn không ngủ là tiền bỏ đi

hoặc lục bát biến thể, như:

Làm nhà cạnh đàng / Kẻ rằng dùng dắng, người rằng kéo co

Thâm đông, hồng tây, dựng may / Ai ơi ở lại ba ngày hẵng đi

Rễ si đâm ra trắng xoá / Mưa to gió lớn hẳn là tới nơi

vì mấy lẽ: (1) lục bát là thể thơ đặc trưng cho ca dao, chứ không phải cho TN; (2) thu nạp thêm cho TN một lượng khá đông đúc những đơn vị vốn được giới sưu tập cao dao đưa vào các công trình của chính họ (xin thử đối chiếu với Kho tàng ca dao người Việt) là quá chuộng số lượng mà coi nhẹ chất lượng và quá phung phí cả công sức lẫn thì giờ.

3Xin x. Nguyễn Xuân Kính - Nguyễn Thuý Loan – Phan Lan Hương - Nguyễn Lân 1992.

4Xin x. Cao Xuân Hạo 1991.

5Để giản tiện, chúng tôi tạm coi mọi đơn vị tục ngữ được lập thức dưới dạng câu ghép như là câu đơn, bởi lẽ các vế câu hợp thành của nó bao giờ cũng là những vế có cấu trúc cú pháp như nhau và gắn kết với nhau bằng mối quan hệ đẳng lập.

6Trong đó THÌ giữ vai trò hệ trọng hơn và thông dụng hơn LÀ (về điểm này, xin x. thêm Cao Xuân Hạo 1991: 232 và các tr. tiếp theo hoặc Nguyễn Đức Dương 2003: 173 – 205).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Dương Quảng Hàm 1943 [1951], Việt Nam văn học sử yếu. Nha học chính Đông Pháp xuất bản.

2. Cao Xuân Hạo 1991 [2004], Tiếng Việt.Sơ thảo ngữ pháp chức năng, bản in lần thứ hai, NXB Giáo dục.

3. Nguyễn Đức Dương 2003, Tục ngữ: cấu trúc cú pháp. Trong Tìm về linh hồn tiếng Việt. TP. HCM: Trẻ, 173 – 205.

4. Nguyễn Đức Dương 2007, Người xưa muốn nhắn gửi gì qua câu tục ngữ “Gái thương chồng đương đông buổi chợ; trai thương vợ nắng quái chiều hôm”. Ngôn ngữ & Đời sống, số 8, tr. 42-44.

5. Nguyễn Xuân Kính - Nguyễn Thuý Loan – Phan Lan Hương - Nguyễn Luân 1992, Kho tàng tục ngữ người Việt, hai tập. Hà Nội: Văn hoá – Thông tin.

6. Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật – Phan Đăng Tài - Nguyễn Thuý Loan - Đặng Diệu Trang 1995, Kho tàng ca dao người Việt, bốn tập. Hà Nội: Văn hoá – Thông tin.

7. Triều Nguyên 2006, Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc. Ngôn ngữ, số 5, năm 2006, tr 19 – 32.

8. Vũ Ngọc Phan 1956 1978, Tục ngữ - cao dao – dân ca Việt Nam , bản in lần thứ 8. Hà Nội: Khoa học Xã hội.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Lào Cai: Ra mắt "lá chắn số" CDSH E-learning bảo vệ thanh niên trên không gian mạng
Sáng 6/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp cùng Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tổ chức Sự kiện ra mắt Bộ công cụ tự học trực tuyến CDSH E-learning. Sự kiện thuộc khuôn khổ Dự án “Thanh niên trong công tác phòng ngừa rủi ro trên không gian mạng” do Liên minh Châu Âu tài trợ.
Hội nghị Trung ương 4: Phát huy sức sáng tạo con người trong giai đoạn phát triển mới
Phát biểu tại Khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, Hội nghị Trung ương lần thứ Tư vừa phải giải quyết những điều kiện để thực hiện hiệu quả các quyết sách, vừa phải chuẩn bị cơ sở lý luận, tổ chức và con người cho sự phát triển lâu dài của đất nước.
Lào Cai: Thúc đẩy tiếp cận tín dụng xanh trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng
Ngày 5/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học Công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) tổ chức Hội thảo “Tài chính vi mô, tín dụng xanh và khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể kinh tế quy mô nhỏ trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng”.
Lâm Đồng: Hội thảo Giải pháp phát triển kinh tế ban đêm đến năm 2030
Sáng 1/10, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lâm Đồng. Với sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương cùng gần 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.
Đắk Lắk: Liên hiệp Hội - Thành viên tích cực của Mặt trận trong giai đoạn mới
Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, làm cầu nối giữa trí thức với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong giai đoạn mới, Liên hiệp Hội tỉnh tăng cường phối hợp, phát huy nguồn lực trí tuệ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và thúc đẩy Đắk Lắk phát triển bền vững.
Đại hội Liên hiệp Hội thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 01 và 02/10/2026, tại thành phố Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Cần Thơ đã long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. ThS. Bùi Minh Châu, nguyên Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026-2031, Ban Chấp hành gồm 36 thành viên.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026
Từ ngày 27/9 đến 3/10, tại Đại học Khoa học - Công nghệ Sirius, Lãnh thổ Liên bang Sirius, Liên bang Nga, đã diễn ra Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026 - một trong những diễn đàn chuyên ngành lớn của Nga về phát triển vi điện tử, cơ sở linh kiện điện tử và các công nghệ điện tử liên quan.
5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.