Thứ năm, 27/11/2008 16:06 (GMT+7)
Nhà rông Ba-na
Thị xã Kon Tum và những khu vực lân cận, nơi có đông 2 nhóm Rơ-ngao và Giơ-lơng, là xứ sở của kiểu nhà rông cao (rôông tơ-jung, hay rôông jrông) ở vùng Ba-na. Đó là những ngôi nhà rông cao vút, đồ sộ và bề thế, nhưng thanh thoát. Hình dáng lạ mắt tạo nên ấn tượng về sự hoành tráng và vẻ đẹp đặc trưng của nhà rông. Nóc nhà cao phổ biến chừng 15-20m, chiều dài ngắn hơn sàn nhà một chút và hơi vồng lên, có dải trang trí dựng cao bên trên. Bốn mái lợp cỏ tranh, hai mái chính cùng lượn cong lên ở bờ dưới và cùng khum vồng ra, nhịp với đường cong của nóc, rồi lên cao thì lượn gần vào nhau để tạo thành một góc hẹp lại mỗi đầu nóc. Từ xa nhìn trực diện vào mái chính cũng như đầu hồi, đều thấy đường cong nhẹ nhàng của mái nhà. Hai mái chính rất lớn, được phủ bằng một tấm đan, trùm xuống nhiều hay ít tuỳ làng, có khi gần kín mái, trông đẹp hơn và lại có tác dụng bảo vệ mái nhà khi gió to. Hai mái đầu hồi hình tam giác cân. Sàn nhà thường cao từ trên 2m đến khoảng 3m, hình ô-van đã cắt bỏ hai đầu. Mặt sàn được chia dọc thành hai phần bằng nhau, dù không có cây gỗ và hàng cột dựng trên đó để dựa các ché rượu cần trong ngày lễ hội thì người ta vẫn ước định hai phần không gian như vậy. Phổ biến là nhà ba gian, tức là có 4 vì cột, 2 vì cột ở hai đầu hồi đều hẹp hơn và thấp hơn một chút so với 2 vì cột của gian giữa. Đó cũng là cách thức để tạo đường cong cho sàn nhà, mái chính và vách bên. Hình thức vách dựng nghiêng ra phía ngoài (“thượng thách hạ thu”) phổ biến. Cửa ra vào mở ở chính giữa mặt trước nhà, qua sàn sân rồi mới ra đến cầu thang.
Sang tỉnh Gia Lai, cũng vẫn kiểu nhà rông mái cao ấy, nhưng ở vùng Mang Giang, dáng vút lên thanh thoát của nó giảm đi ít nhiều. Bởi lẽ, hai mái chính đều thẳng, không lượn cong vào, do lớn hơn so với nhà rông vùng Kon Tum.
Đi tiếp về phía Đông, đến vùng An Khê, Kbang và Kon Chro, phổ biến kiểu nhà rông không vươn cao mà chạy dài, thường trong khoảng từ 20 đến 30m. Nhà thường có năm hoặc bảy gian, tức là dựng trên cơ sở 6 hoặc 8 vì cột; có hai mái với sống nóc thẳng. Sàn hình chữ nhật, nay không thấy những ngôi nhà có sàn cao như nhà rông kiểu mái cao. Vách dựng thẳng; phần tam giác phía trên vách ở hai đầu hồi được bịt kín. Cửa ra vào mở ở giữa vách trước và ở hai đầu hồi, đều có sàn sân làm bước đệm giữa sàn nhà với thang lên xuống.
Có thể, như PTS. TS Nguyễn Khắc Tụng nêu giả thiết, do người Ba-na vùng này ở gần người Kinh lâu đời nên nhà rông của họ khác biệt như vậy, “không khác nhà ở là mấy”. Có điều đáng chú ý là, trong lễ bỏ mả ở đây, có nghi thức rước mô hình nhà được làm rất đẹp, như mô phỏng từ ngôi nhà rông mái cao; qua đó khiến ta ngỡ rằng xưa kia nhà rông của người Ba-na vùng này cũng thuộc dạng nhà rông mái cao, nhưng về sau nó chỉ còn lộ ra dưới dạng ảnh xạ trong một lễ trọng theo tập tục cổ truyền. Nay tuy chỉ gặp nhà rông thấp và dài, nhưng nó thường lớn hơn và đẹp hơn nhà ở. Sự hấp dẫn của nó chủ yếu ở những trang trái bên ngoài cũng như bên trong nhà, tạo ra bằng cách chạm khắc gỗ, đan nan và kết hợp sử dụng 3 màu cổ truyền: đen, trắng, đỏ. Dải hoa văn chạy dọc nóc nhà nổi bật những hình trăng khuyết, hay mặt trời, chim, hay gà… mỗi đầu đốc đều nhô lên bộ phân trang trí hình chữ V, được coi là “sừng” của ngôi nhà, được tạo hình và tô vẽ khá cầu kỳ, đôi khi cũng có thể biến dạng thành kiểu trang trí khác. Những mô típ hoa văn hình học được thể hiện cả mặt ngoài phên vách, trên những cây nẹp vách, cả ở bên trong nhà, chủ yếu là những hình “sao” 8 cánh tam giác hay 4 cánh tam giác, hoa 4 cánh, đường răng cưa… Đặc biệt, có một “hàng rào” (knưng hay Kvar) bằng gỗ ngăn dọc giữa sàn nhà, trổ cửa qua lại (măng đur) ở khoảng giữa. Đây đồng thời là một dãy trang trí đặc sắc, với những hình tượng điêu khắc hay gặp như: nồi đồng, voi, rùa, công, kỳ đà (hay tắc kè?), chồn, chuột, ngọn rau dớn… Dựa vào bức rào đó là những cây nêu (chi-đang) lưu lại sau lễ cúng thể hiện tín ngưỡng cầu mùa của dân làng trong mỗi vụ lúa rẫy. Trên các cây nêu loà xoà những trang trí này, có treo cả những hình nộm nhỏ đẽo bằng gỗ, hình bắp ngô, củ khoai, bầu nước, chiếc rùi, con dao… với những hình vẽ bằng chính máu của con vật bị hiến tế. Những năm gần đây, việc dân làng dựng nhà rông kiểu cổ truyền được khích lệ, nhất là ở tỉnh Kon Tum. Nhiều ngôi nhà rông mái tranh mọc lên. Có những làng đang chối bỏ kiểu nhà lợp tôn và tự trở lại với mái tranh quen thuộc. Đã từ lâu, nhà rông không còn là trung tâm chỉ huy chiến đấu và “lô cốt” bảo vệ làng, cũng không còn thâm nghiêm với nhiều kiêng cữ khắt khe theo tập tục. Các cụ già đã quên thuở trai làng phải ngủ đêm trên những tấm phản gỗ dày, thậm chí được treo lên, để tránh nguy cơ bị đâm giáo từ dưới gầm sàn lên. Nhưng nhiều làng vẫn duy trì tập quán thanh niên nam ngủ đêm tại nhà rông. Dù nhà rông nay có thể không đủ cao lớn và đẹp như xưa, dù chức năng của nó thời nay mở rộng ra và được gắn cả biểu hiệu “Nhà rông văn hoá”, hay có khi thêm mấy chữ “Truyền thống thanh niên” vào nữa, thì các cộng đồng làng người Ba-na nói chung vẫn tha thiết với ngôi nhà rông của mình, bởi văn hoá Ba-na không thể thiếu vắng nó, kể cả ngày nay. | Lễ khánh thành một ngôi nhà rông của người Ba-na. (Ngôi nhà trông như cách bườm khổng lồ, với diện tích mái tổng cộng khoảng 400m2). |
|