Nguyễn Văn Tố vị Hội trưởng của dân trí
Thế nhưng một hạnh ngộ đưa tôi lại gần cụ. Số là buổi tối cuối năm 1942, có hai vị khách lạ đến chơi nhà, tự xưng ở trong Ban trị sự Hội Truyền bá Quốc ngữ (TBQN), tên là Phước, thủ quỹ, và Khái, trưởng ban khánh tiết, được cụ Hội trưởng cử đến thăm vị chủ nhiệm báo Thanh Nghị.Hai ông trao bức thư cụ Nguyễn Văn Tố mời tôi tới hội quán Trí tri“diễn thuyết” về vấn đề giáo dục bình dân, về quốc nạn thất học và về hoài bão của Hội TBQN. “Chả là – hai ông nói trịnh trọng - Cụ Hội trưởng rất hâm mộ vị nhà báo kiêm nhà giáo qua các bài viết về những vấn đề trên”. Tôi nhận lời.
Buổi nói chuyện (vào đầu năm 1943) rất đông thính giả, ngồi chật ních hội trường. Thành phần gồm đủ mặt giới thượng lưu Hà Thành và sinh viên học sinh, nam thanh nữ tú. Bài nói, tôi chuẩn bị kỹ (sau có đăng báo Thanh Nghị), khi nói lại xen mấy câu thơ dân dã mà gợi cảm của các lớp i - tờ.
O tròn như quả trứng gà
Ô thì đội mũ, Ơ là đeo dâu…
Buổi nói chuyện được người nghe khen ngợi. Sự thật là nhờ ngọn lửa yêu nước mà cụ Hội trưởng đã khơi dậy trong người nghe khi giới thiệu diễn giả. Ra về, cụ mời tôi đến dự phiên họp tới của ban trị sự Hội để bàn kế hoạch mở rộng phong trào. Cụ đề nghị với Hội nghị tạm bổ sung tôi vào Ban trị sự với danh vị tương đương Phó Hội trưởng Tôn Thất Bình, đương nhiên, đại hội sau sẽ chính thức hoá. Ông Bình là giáo sư cùng trường Thăng Long với tôi, chủ nhiệm báo Tổ quốc An Nam(La Patrie Annamite) tiếng Pháp, con rể cụ Thượng P. Q. được việc lắm, giúp cụ Hội trưởng tiếp xúc với các nhà đương cục đầu sỏ khó tính.
Tôi thì cụ phân công đi cổ động phát triển cơ sở ở các tỉnh xa. Ví dụ: đi Kiến An, ở đấy có kỹ sư Nguyễn Xiển, giám đốc đài thiên văn ở Phủ Liễn, hoặc đi Lang Sơn, có tri châu Lã Văn Lô, một tráng sinh hướng đạo. Xa hơn cả là đi Huế, có Đào Đăng Vĩ, bạn học cũ, hiệu trưởng Lyceum Việt Anh trong Hội Quảng Trí. Về phần cụ, thì cụ dồn sức đi kinh lý kiểm tra, củng cố các lớp vừa tản cư ra ngoại thành tránh bom đạn Đồng minh, thuộc vùng Khương Thượng, Khương Hạ ở phía nam thành phố. Cụ thường rủ tôi cùng đi. Cụ nói với tôi: “Ông còn trẻ, chuyện trò với đám giáo viên trẻ, số đông đều là sinh viên, hướng đạo sinh - độc giả báo Thanh Nghị cả đấy! - ông bảo, họ dễ nghe. Bảo họ nên bơn bớt hát những bài ca cách mạng đi. Tụi mật thám cứ nhung nhúc như rươi, không thấy à?”.
Tôi thích tác phong giản dị, xuề xoà của ông già này, già mà trẻ vì mép, cằm luôn nhẫn nhụi: cụ không để râu. Cụ có lối nói bình dân, thái độ khiêm nhường, chân tình, dễ thương. Đi thanh tra lớp học, cụ thường lân la vào nhà các đồng bào nghèo, giục theo lớp, tiện thể hỏi han về đời sống, công việc làm ăn, được bà con mến lắm. Mặt khác, cụ lại khéo ngoại giao với các cụ lớn Tây, ta, sách lược khi cương khi nhu, có lùi có tiến, nhờ vậy Hội nhiều phen vượt thác nghềnh suôn sẻ.
Nhưng cái khó lại chính từ anh em cộng sự trẻ, rất hăng hái mở lớp và hướng dẫn bà con học. Khổ một nỗi đôi khi quá hăng! Dễ hiểu. Phe Dân chủ đang phản công quyết liệt ở Âu châu. Đối phó lại, Nhật cựa quậy mạnh, chèn Pháp ở Đông Dương. “Cơ hội đến rồi. Còn do dự gì nữa”. Tranh luận nảy lửa trong các buổi họp của Ban trị sự với các cán bộ trụ cột tận tuỵ “tip” Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Công Mỹ. Có lần áp suất không khí tăng đến mức cụ Hội trưởng phải tắt phụt đèn. Phòng họp tối om. Cụ Tố cười xoà, nói vài lời pha trò, làm tình hình dịu hẳn…
Cụ tin cậy tôi, tuy ít tuổi nhưng mát tính. Cụ bảo khẽ tôi: “Bọn Tây nó xỏ lá lắm. Đúng là Toàn quyền Decoux có thông tri thúc công sức các tỉnh ủng hộ mình lập chi nhánh. Lấy lòng mà. Nhưng chắc ông cũng biết tỏng tim đen họ: xui ta bộc lộ lực lượng. Ta lợi dụng, “tương kế tựu kế”. Nhưng sơ hở thì có mà chết cả nút! “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, ông nhỉ”.
Tôi thông cảm mối lo của cụ. Tiện dịp, tôi cũng nói rõ quan điểm của mình, rằng một hội tư nhân thì nên tự hạn chế ở vai trò “gây Men” là thượng sách. Sức đâu mà giải quyết được nạn thất học ở toàn dân. Một đại vấn đề. Sẽ đặt ra sau này cho Chính phủ khi nước nhà độc lập. Còn bây giờ thì cứ cố gắng hết cỡ nhưng chớ có nôn nóng. Cụ Tố tán thành ý kiến đó, rất hợp với ý cụ. Từ lâu cụ vẫn khuyên anh em đồng sự chăm lo trau chuốt phương pháp sư phạm. Thanh Nghịđã đăng bài của cụ, tóm tắt các buổi cụ nói chuyện với giáo viên, khuyên khi dạy luân lý nên chú trọng đề cao các đức tính thông thường ngàn đời về đạo làm người: hiếu thảo, cần cù, lễ phép, thân ái, giúp đỡ người nghèo, nói lời thì giữ lấy lời, cố gắng làm việc làng, việc nước cho hết bổn phận… Không phải cụ không nói đến những vấn đề cao xa. Thanh Nghịcó đăng bài của cụ nghiên cứu về tính hiếu học của dân ta, về vai trò của các hương sư, các nhà nho xưa kia trong xóm làng, về nguồn gốc chữ viết riêng của tộc Việt thời cổ đại (không giống chữ Hán). Ở thuở xa xăm ấy, thôn xã ta đã biết lập sổ đinh. Thế là tổ tiên ta xửa xưa không mù chữ. Thật đáng tự hào! Hoan hô ông già!
Về phần tôi, nhằm cái thiết thực, tôi nghiên cứu viết chương trình, bài giảng, cách dạy cho các lớp người lớn.
- Tốt lắm - Cụ nói - Chính việc ấy có ghi trong Điều lệ Hội. Mục đích nâng cao dân trí mà.
- Vâng - tôi đáp - Ít nhất để biết đọc rồi, đồng bào sẵn có được cái gì mà đọc, tránh mù chữ trở lại.
Hai chúng tôi đang tập trung sức theo hướng ấy thì Việt Minh gấp rút chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.
Rồi Tổng khởi nghĩa.
Nhiều cán bộ thoát ly trở về Thủ đô.
Một bạn trong lãnh đạo Việt Minh báo tin mừng: trong dự kiến danh sách Chính phủ nhân dân lâm thời có tên tôi ở Bộ Cứu tế Xã hội. Thú thật, tôi băn khoăn lắm: nghề mình là “gõ đầu trẻ” cơ mà! Mấy hôm sau các báo công bố danh sách chính thức của Chính phủ: tên tôi được ghi ở Bộ Quốc gia Giáo dục, tên cụ Tố ở Bộ Cứu tế Xã hội. Một sự hoán vị bất ngờ1
Bộ Giáo dục ngay những ngày đầu đã xin được Sắc lệnh xoá nạn mù chữ trong thời hạn một năm, có trở lực lớn thì trong vòng 3 năm; song song là Sắc lệnh lập ngành Bình dân học vụ. Không đợi tôi kiến nghị, cụ Hội trưởng Nguyễn Văn Tố chủ động bàn với Ban trị sự quyết định và tuyên bố: chuyển toàn bộ tổ chức cùng toàn bộ tài sản vật chất và tinh thần của Hội TBQN sang ngành Bình dân học vụ. Có được điều kiện thuận lợi ấy, Bộ Giáo dục bèn mở Hội nghị toàn quốc Binh dân học vụ. Hồ Chủ tịch đến dự, cho phép khoá huấn luyện giáo viên đầu tiên mang tên “Khoá Hồ Chí Minh”. Trước khi bế mạc hội nghị, một cán bộ của Bộ, anh Lê Văn bình, bí thư của tôi, dẫn một nữ huấn luyện viên, mang sổ vàng lên xin chữ ký lưu niệm của Hồ Chủ tịch, Cố vấn Vĩnh Thuỵ và mấy Bộ trưởng có mặt. Đến lượt Bộ trưởng Cửu tế Xã hội, cụ tươi cười cầm bút, vừa ký vừa nhìn anh Bình. Anh nguyên là hiệu trưởng một tư thục, cũng là cơ sở tốt của Hội TBQN, thường được cụ Hội trưởng tới thăm động viên. Cụ thầm thì: “Ông Bình nà! Đáng lẽ mình ở bên Bộ các ông, cùng làm Bình dân học vụ đấy! Nhưng thế là phải. Nghe kể lại, tôi càng mến phục về đức khiêm nhường, tính hồn nhiên của cụ. Tất cả vì việc công”!
Từ đó tôi ít được gặp cụ: cả hai người đều túi bụi xếp đặt cơ quan mình được cách mạng giao trách nhiệm, bên thì diệt giặc đói, bên diệt giặc dốt. Đều nặng cả.
Kịp kháng chiến nổ ra ở Thủ đô. Tôi theo Chính phủ lên A.T.K. Tân Trào. Cụ Tố dẫn cơ quan mình lên thị xã Bắc Cạn.
Cuối thu năm 1947, Pháp tấn công Việt Bắc. Với hai gọng kìm thép và lửa. Bằng cả ba binh chủng không, thuỷ, lục. Địch nhảy dù Bắc Cạn. Cơ quan cụ Tố bị mắc kẹt trong gọng kìm của giặc.
Cụ Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố lâm nạn. Đó là vị Bộ trưởng đầu tiên hy sinh trên chiến trường, đối mặt với địch.
Chỉ xin phép được chia sẻ mối tình cảm sâu sắc của các bạn với vị Huynh trưởng quá cố đã gắn cả cuộc đời mình với sự nghiệp cao cả - nâng cao dân trí. Tôi xin phép diễn tả tình cảm chung ấy bằng một hình ảnh - một ảo ảnh - mãi mãi in đậm trong lòng mọi người chúng ta.
Đây, ảo ảnh:
Cái đêm lịch sử ấy, sương mù núi mịt mù, phủ toàn cảnh một góc miền thượng du… thấp thoáng trong màn sương bóng một ông già quen quen. Vẫn bộ đồ dân tộc đơn sơ: khăn xếp, trắng toát, từ đầu đến chân: “tiên phong đạo cốt”.
Ta thấy Bóng đứng thẳng người, trong vòng vây của gươm súng tua tủa.
Bóng đạp chân lên khối đất đen ngòm: khối Khổng lồ Tội ác - địa ngục đầy quỷ dữ phun máu lửa, cả máu lẫn lửa, không đỏ mà đen thui chất bùn tanh.
Bóng ngửng đầu nhìn bầu trời cao: sao Đẩu lấp lánh, phóng tia sáng vẫy gọi. Thế rồi, không một phút do dự, Bóng lao thẳng vào luồng sáng, luồng sáng rực rỡ của chinh nghĩa Ái Quốc - Chí Minh.
Ôi! Đẹp biết nhường nào!
Oanh liệt biết nhường nào!
Kiến nghĩa bất vi phi dũng dã (*)
Ôi! Đạo đức tuyệt vời! Trí tuệ tuyệt vời!
Rừng Việt Bắc - đất Tổ bạt ngàn
Hồn sĩ phu - nòi Hùng muôn thuở!
Tôi kính cẩn cúi đầu, nghiêng mình trước anh linh.
Liệt sĩ Nguyễn Văn Tố
Nhân, trí, dũng.
Một bậc hiền.
(*) Thấy việc nghĩa không làm không phải là dũng.








