Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 01/12/2009 16:25 (GMT+7)

Nghiên cứu các giải pháp xử lý bùn đỏ và bùn oxalat của nhà máy bauxit – nhôm

Nhóm nghiên cứu của TS. Lê Xuân Thám đã nghiên cứu sàng lọc từ rất nhiều loài thực vật chọn lọc ra được 3 - 4 giống cây có triển vọng phát triển có hiệu quả kinh tế. Tập đoàn than - khoáng sản Việt Nam (TKV) và các nhà khoa học, các chuyên gia quản lý rất ủng hộ và đề nghị được tài trợ cho nghiên cứu càng sớm càng tốt, đáp ứng kịp thời cho dự án bauxit - nhôm ở Tân Rai, huyện Bảo Lâm.

Các giải pháp đề xuất     

Bùn đỏ bao gồm các oxid kim loại không hòa tan trong kiềm của quặng bauxit. Đối với mỏ bauxit Tân Rai, đó là các oxid sắt (Fe2O3) chiếm 46%, oxid nhôm (Al2O3) chiếm 17%, còn lại là oxid silic (SiO2), oxid titan, oxid natri, oxid calci chiếm từ 3 - 6% và các chất khác. Theo giải trình của ông Dương Văn Hòa, phó tổng giám đốc TKV, cứ một tấn alumin sản xuất ra phải cần 62 kg xút NaOH hòa với nước đưa vào dây chuyền phản ứng hóa học. Lượng xút dư sẽ phải thu hồi lại để tái sản xuất. Như vậy, ngay từ khâu tuyển và nghiền ướt quặng đã sử dụng nước soda (NaOH) rất lớn, gây kiềm hóa nặng toàn khối bùn thải: pH từ 11 - 14. Đồng thời việc sử dụng HF hòa tan khoáng silic cũng làm cho bùn thải có độ độc cao đối với thực vật. Dễ thấy khối bùn thải hầu như không còn hàm chứa chất hữu cơ - mùn, cây cỏ cũng hầu như không thể mọc và lụi chết nhanh chóng trên nền bùn thải. Theo tính toán, việc khai thác mỏ Tân Rai, Lâm Đồng (trong 50 năm) sẽ dẫn đến phải có 2 khu chứa tới 15 và 16 triệu tấn bùn thải chứa quặng đuôi.

Chủ đầu tư đã tính toán rất kỹ giải pháp xây hồ chứa. Tuy nhiên, phương án này chưa tính đến giải pháp xử lý bùn đỏ. Vì thế giải pháp mà nhóm nghiên cứu của TS. Lê Xuân Thám đưa ra được giới khoa học và nhà đầu tư rất quan tâm.

Các giải pháp dự kiến khảo sát bao gồm:

- Tìm kiếm các nguồn phối trộn để trung hòa bùn đỏ: cần tập trung khai thác các nguồn hữu cơ có tính acid: than bùn chua (pH < 4), đặc biệt là than bùn vùng Di Linh, Lâm Hà, Đam Rông... khá dồi dào, tăng cường sử dụng than bùn ủ phân chuồng bón phủ lên trên bùn đỏ.

- Dùng phế liệu của một số công ty khác để xử lý trung hòa cho bùn đỏ, chẳng hạn phế thải của Công ty men Mauri La Ngà hoặc Công ty Vedan. Về bản chất phế thải các công ty này là cặn rỉ môi trường sau lên men vi sinh, rất giàu hữu cơ, song rất chua (pH < 2,5), thời gian qua việc giải quyết xử lý chưa triệt để, gây hậu quả về môi trường. Như vậy có thể giải được cùng lúc bài toán ô nhiễm ở  hai lĩnh vực, nghĩa là dùng chính các phế liệu gây ô nhiễm nặng đó xử lý lẫn nhau, đưa về một môi trường có khả năng cho thực vật phát triển.

- Trên nền bùn đỏ đã xử lý trung hòa, khảo nghiệm các nhóm thực vật hoặc cây trồng thích hợp có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế và đồng thời cải tạo - tái tạo đất trồng. Nhờ đó giải quyết triệt để có tính bền vững các vấn nạn ô nhiễm nêu trên. Dự kiến các nhóm thực vật chọn lọc đưa vào thử nghiệm gồm: chuối, dứa, sắn, sen, súng, lúa, củ niễng, rau muống, dầu mè Jatropha curcas; các nhóm thực vật chọn lọc mới cho khảo nghiệm; từ các nhóm cây hoang dại, cây cảnh, cây rừng... Thử nghiệm trên cây trồng chậu để xác định khả năng sử dụng chế phẩm thu được làm phân bón sinh học, giá thể trồng cho một số loại cây.

PGS. TS. Lê Xuân Thám cho biết  bước đầu sẽ nghiên cứu thử nghiệm trên quy mô nhỏ tại  Trại thực nghiệm vài ngàn mét vuông. Sau đó, triển khai thử nghiệm trên thực địa là các bãi bùn thải (bùn đỏ và bùn oxalat) của vùng khai thác, chế biến bauxit - alumin ở Bảo Lộc, Bảo Lâm... từ đó, hướng tới chuyển giao công nghệ xử lý cho toàn vùng chứa bùn thải (> 200 ha) và kiến nghị cho các vùng lớn hơn ở Lâm Đồng và Tây Nguyên.

Kết quả nghiên cứu bước đầu

Để tiến hành khảo sát, nhóm của TS. Lê Xuân Thám và các cộng sự đã dùng bùn đỏ từ Nhà máy hóa chất Tân Bình (TP.HCM) ở 2 dạng: dạng khô (100 kg, đã trung hòa bằng acid vô cơ mạnh H2SO4,  pH đạt gần trung tính 8,1 - 8,2) và dạng lỏng chưa trung hòa (200 lít, rất kiềm, pH 12,5). Bùn đỏ dạng khô do pH đã khá thấp, thực nghiệm chỉ tập trung vào phối trộn than bùn để tăng hữu cơ tái tạo độ phì. Tỷ lệ bùn đỏ - than bùn là 2:1, 1: 1, 1:2, 1:2.5. pH tương ứng giảm 8.0 - 7.9, 7.7 - 7.5, 7.3 - 7.0, 6.9 - 6.7.

Đối với bùn đỏ dạng lỏng, nhóm nghiên cứu dùng bã nấm bổ sung để tăng lượng mùn hữu cơ và tăng độ trung hòa. Tỷ lệ bùn đỏ - than bùn lần lượt là 2:1, 1: 1, 1:2, 1:2.5; tỷ lệ bổ sung bã nấm là 1, 2, 2.5; pH tương ứng giảm 10 - 9.5, 9 - 8.5, 8.0 - 7.9.

Bùn đỏ dạng khô đã trung hòa: được nghiên cứu khảo nghiệm với hơn 20 loài thuộc họ dâu tằm Moraceae, họ hòa thảo Poaceae (lúa, bắp, cỏ gấu, cỏ tranh, cỏ gừng...), họ đậu Fabaceae (đậu nành, đậu cô ve...), họ chuối Musaceae (chuối, dong riềng), họ gừng Gingiberaceae (gừng, riềng), họ súng Nympheaceae, họ sen Nelumbonaceae, họ thầu dầu Euphorbiaceae, họ hoa môi (Lanatana camara), họ cà Solanaceae (cà chua), họ cói (thủy trúc), họ thùa Agavaceae, họ xương rồng Cactaceae, họ sống đời Crassulaceae, họ hành tỏi Liliaceae... Kết quả cho thấy hầu hết các loài cây đều rất nhạy cảm với các hỗn hợp khoáng trong bùn đỏ, bị ức chế sinh trưởng rất nặng, hoại tử từng phần và chết rụi khi muối Na2SO4 rút lên trắng hết mặt đất và tuyệt đa số các loài cây chết sau 3 - 10 ngày. Nhạy cảm nhất là lúa, bắp và cà chua chỉ sau 2 - 5 ngày là chết hoàn toàn, hạt giống không thể nảy mầm trên nền bùn đỏ. Kể cả khi đã phối trộn tới tỷ lệ 2,5. Than bùn và pH đã hạ xuống 6,7 - 6,9 thì cũng chỉ còn 4 loài: cây lô hội (nha đam) Aloe vera, cây thuốc bỏng, sống đời Kalanchoe, cây xương rồng Nopal (Opunctia ficus-indica, Nopan cochellinifera)và cây thanh long (Hylocereus undatus)là sống sót được, song sinh trưởng kém và thường ngả vàng, nhiều vùng mô ngả vàng, hoại tử dần.

Từ các kết quả sơ bộ trên, nhóm nghiên cứu triển khai trên nền bùn đỏ dạng lỏng theo phương pháp trung hòa bằng nguồn hữu cơ kết hợp tăng cường tái tạo độ phì và tập trung nghiên cứu sâu hơn với các loài cây sống sót trong thực nghiệm trên.

Bùn đỏ dạng lỏng đã phối trộn: với tỷ lệ bùn đỏ - than bùn - bã nấm 1:1:1, 1:2:1, 1:1:2, 1:2:2 và 1:2.5:2.5; pH từ 8.5 - 9, các loài cây nhạy cảm vẫn bị ngộ độc và chết tuy chậm hơn. Một số loài cho thấy khả năng sinh trưởng khá như dong riềng, riềng, cây lô hội, cây lược vàng, sống đời, thể hiện tốt nhất là cây xương rồng Nopal, cây thanh long, hoa súng. Phương thức phối trộn tăng hữu cơ 1:2:2 và 1:2.5:2.5 cho hiệu quả tốt: cây xanh tươi, ra chồi mới, rễ mới tươi khỏe, thậm chí phát hoa bình thường.

PGS.TS. Lê Xuân Thám cho biết giải pháp này có thể kết hợp giải quyết nhiều bài toán xử lý phế liệu gây ô nhiễm môi trường thành giá thể trồng cây, mau chóng chuyển hóa bùn đỏ cho công tác hoàn thổ.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.