Năng lượng tái tạo cho người nghèo
Xã hội phát triển, người nghèo biết nhiều hơn đến tiềm năng năng lượng tái tạo (NLTT). Tuy nhiên, việc hướng dẫn người nghèo ứng dụng nguồn NLTT vào đời sống, sản xuất nông nghiệp hay các hoạt động kinh doanh để tạo thu nhập vẫn còn nhiều trở ngại.
Nhận thức cộng đồng
Trên thực tế, nhu cầu sử dụng năng lượng của người nghèo rất đơn giản. Một nghiên cứu của Dự án “Đói nghèo và môi trường” do UNDP thực hiện cuối năm cho thấy, việc sử dụng điện của các hộ nghèo chủ yếu dành cho thắp sáng, chạy các thiết bị giải trí như đài, tivi, chỉ khoảng 30% hộ gia đình sử dụng nồi cơm điện.
Với người nghèo, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa, điện cũng không tạo ra sự thay đổi quan trọng trong việc giảm phụ thuộc vào gỗ rừng. Điều kiện địa phương đem đến lợi ích trong phát triển khí sinh học, năng lượng mặt trời và củi (than củi). Tuy nhiên, chỉ củi và điện là được sử dụng phổ biến. Củi đốt là nguồn năng lượng dồi dào ở vùng núi, nên người dân vẫn phá rừng lấy củi đốt mà không chú trọng bảo tồn nguồn năng lượng này. Tại Krông Na, một xã nghèo của tỉnh Đắck Lắk, hiện có tới 95% hộ gia đình có điện. Nhưng người dân vẫn dùng củi đun nấu. Thậm chí cả những hộ không thuộc diện nghèo (đã có nồi cơm điện) người ta vẫn dùng củi để nấu nướng. Chỉ một số ít hộ sử dụng điện cho mục đích sản xuất, kinh doanh nhỏ như để tủ đá, sản xuất kem…
Cũng do nguồn củi dễ nên các chất thải sinh khối từ thu hoạch vụ mùa như rơm, rạ, trấu, có sẵn nhưng không được sử dụng. Ở một số vùng núi như Hà Giang, Cao Bằng, Hà Tĩnh, các tỉnh Tây Nguyên… hầu hết các hộ gia đình đều chăn nuôi gia súc, nhất là bò, rất thuận lợi cho phát triển năng lượng sinh khối. Những năm gần đây, với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, một số địa phương cũng đã đề cập đến việc sử dụng biogas cho đun nấu, song hầu hết chỉ ở dạng trình diễn.
Biến đổi khí hậu, gia tăng dân số… khiến địa phương và người dân tập trung hơn cho phát triển kinh tế. Trong các chương trình xoá đói, giảm nghèo, việc cung cấp năng lượng nói chung và sử dụng NLTT nói riêng cũng không được chú ý đúng mức. Giới hạn về nhận thức, kiến thức đã khiến không ít chính quyền địa phương cho rằng, cung cấp điện chỉ góp phần cải thiện đời sống hộ nghèo chứ không làm tăng thu nhập. Còn người nghèo cho rằng, nhu cầu năng lượng cho chiếu sáng, đun nấu đã có lưới điện và củi rừng đáp ứng. Họ cũng không nghĩ đến việc có thể sử dụng nguồn NLTT cho việc cung cấp điện trong khu vực, đơn giản việc cung cấp điện là trách nhiệm của Nhà nước.
Cơ hội gắn liền thách thức
Những năm gần đây, một số dự án NLTT đã được triển khai ở các địa phương nhưng mang lại hiệu quả không cao. Nhiều địa phương vẫn xem NLTT là nguồn năng lượng không thuận lợi cho các khu vực nông thôn bởi những bất lợi do phụ thuộc vào thời tiết. Tại Đắk Lắk, một số thuỷ điện nhỏ và rất nhỏ như M’Đoan (6,4MW), Êral (khoảng 4MW) đã được xây dựng. Riêng xã Êra Trang có khoảng 20 hệ thống thuỷ điện cực nhỏ được xây dựng. Tuy nhiên, chỉ một số hệ thống có thể vận hành cả năm, còn lại do thiếu nước nên chỉ hoạt động được vào mùa mưa.
Dự án phổ biến đun củi ít khói của Sở Khoa học và Công nghệ Hà Tĩnh được đánh giá là tiêu thụ ít củi, ít khói nhưng không được chính quyền một số xã hưởng ứng. Một cán bộ xã Hương Giang cho rằng, “bếp đun này không thích hợp với địa bàn xã chúng tôi bởi người dân dã quen với kiểu đun nấu truyền thống và có thể nhặt củi dễ dàng”. Còn tại tỉnh Đắk Lắk, Trung tâm khuyến nông tỉnh đã triển khai chương trính khí sinh học, nhưng do các hộ gia đình không biết cách vận hành, bảo trì các hệ thống sinh học, thất bại của chương trình thí điểm này đã tạo ra ấn tượng không tốt về tính hữu ích của NLTT với cả cán bộ và người dân địa phương. Đó là chưa kể đến chi phí đầu tư công nghệ, chi phí sản xuất điện từ nguồn NLTT chưa cạnh tranh được với giá điện hiện nay của EVN cung cấp cho các vùng này là 650 đồng/kWh.
Theo chương trình điện khí hoá nông thôn, cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa được hoà lưới điện quốc gia mà không phải tốn chi phí. Ngoài trang bị hệ thống phân phối điện trong nhà, với bóng đèn dây tóc, bóng đèn huỳnh quang 0.6 mét, tập đoàn Điện lực VN còn quy định giá điện ở khu vực này là 605 đồng/kWh. Vì vậy, bất chấp những lý do: chất lượng lưới điện chưa cao, thiếu công suất, điện áp không ổn định chính quyền địa phương và người dân vẫn đang đợi sự hỗ trợ tài chính của Nhà nước để phục hồi, cải thiện hệ thống lưới điện. Bên cạnh đó, việc hiện hữu của lưới điện, thói quen trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, cũng gây trở ngại đáng kể cho việc sử dụng điện từ các nguồn NLTT ở vùng nông thôn nói chung, các xã nghèo nói riêng.
Thực tế, nhu cầu năng lượng của người nghèo rất lớn. Theo nhóm điều tra của UNDP, người nghèo cần nhiều loại năng lượng như điện cơ năng (bơm nước), nhiệt (phơi, sấy nông sản), năng lượng để đun nấu. Các nguồn NLTT ở địa phương hoàn toàn có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu này. Tuy nhiên các năng lượng này phải được chuyển từ dạng ban đầu thành năng lượng hữu ích bằng những công nghệ phù hợp.








