Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 02/04/2021 21:01 (GMT+7)

Nan giải tìm vị trí xây bay thứ 2 của Vùng Thủ đô

Quá trình đô thị hóa ở các quốc gia là xu thế tất yếu trong sự phát triển kinh tế xã hội. Việt Nam là quốc gia có tốc độ đô thị hóa cao nhất Đông Nam Á với tỷ lệ đô thị hóa (tính đến cuối năm 2020) là 40,3%. Với 862 đô thị, trong đó có 02 đô thị đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; có 22 đô thị loại I (trong đó có 03 đô thị trực thuộc Trung ương: Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ); 31 đô thị loại II ; 48 đô thị loại III ; 88 đô thị loại IV và 671 đô thị loại V.

KTS Trần Ngọc Chính – Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam

Các đô thị Việt Nam đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng kinh tế- xã hội của đất nước, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, chiếm tỷ trọng chi phối trong thu chi ngân sách, xuất khẩu, sản xuất công nghiệp.

Rõ ràng, nội dung phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ việc phát triển cho đô thị và các điểm dân cư của cả nước là rất quan trọng, trong đó bao gồm hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và đặc biệt là hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc.

Theo tài liệu của Bộ Giao thông Vận tải về Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được nghiên cứu khá công phu, bài bản với số liệu và bản đồ rất lớn, đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về hệ thống cảng hàng không và sân bay Việt Nam trong tương lai. Đã nêu bật được hiện trạng, những ưu điểm và những khó khăn, tồn tại cần phải khắc để phục vụ việc phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển nhanh và hội nhập quốc tế, KTS. Trần Ngọc Chính- Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị VN, Nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho biết.

Cũng theo KTS Chính cho hay, trước hết nội dung dự án đã đánh giá đầy đủ só liệu dân số và đô thị ở 6 vùng kinh tế xã hội, bao gồm: Đồng bằng Sông Hồng; Trung du miền núi phía Bắc; Trung du Duyên hải miền Trung; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long. Từ cơ sở phân tích điều kiện kinh tế- xã hội, địa lý và đặc thù từng vùng một, các tác giả đã nêu rõ hiện trạng các sân bay của cả nước để làm rõ yêu cầu đối với quy hoạch hệ thống cảng hàng không, sân bay. Đặc biệt đã làm rõ năng lực (quy mô) của các cảng hàng không, sân bay, những yêu cầu cho sự phát triển để phù hợp với tốc độ tăng trưởng của các sân bay đáp ứng yêu cầu trước mắt và tương lai phát triển.

Hiện trạng trên cả nước có 23 càng hàng không, sân bay với diện tích chiếm đất là 12.596 ha trong đó do hàng không dân dụng (HKĐ) quản lý là khoảng 1.885 ha. Như vậy còn 90.714 ha là do quốc phòng quản lý. Những số liệu này cho thấy hệ thống cảng hàng không, sân bay ở nước ta đều ở dạng lưỡng dụng (có cả sân bay phục vụ quốc phòng).

 Qua quá trình nghiên cứu tài liệu và kinh nghiệm của nước ngoài (đặc biệt là khu vực ASEAN) các tác giả đã đưa ra 3 khu vực quy hoạch (miền Bắc, miền Trung và miền Nam) là hợp lý. Theo tôi với 30 sân bay được quy hoạch và xây dựng đến giai đoạn năm 2050. Như vậy từ năm 2030 đến năm 2050 chỉ xây dựng thêm 07 sân bay nữa. Việc xác định 07 sân bay được xây mới là rất quan trọng. Ở nội dung quy hoạch này, tôi rất quan tâm đến sân bay thứ 2 Vùng Thủ đô Hà Nội. Vì đây là bộ mặt Thủ đô- Quốc gia vào năm 2050, trong đó năm 2045 chúng ta kỷ niệm 100 năm thành lập nước, KTS Chính cho biết thêm.

Đây là Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng  hàng không, sân bay toàn quốc thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 vì vậy phải phù hợp với quy hoạch hệ thống đô thị Việt Nam cùng thời kỳ.

Các đô thị Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển nhanh, nhất là Thủ đô Hà Nội đã được mở rộng đến 3.344km 2với dân số từ 10 đến 12 triệu người, và là một trong các Thủ đô lớn của thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị cực lớn (siêu đô thị) với quy mô dân số từ 12 đến 14 triệu người. Các đô thị Việt Nam sẽ dần được nâng cấp lên thành đô thị loại I và được bố trí đều khắp theo 6 vùng kinh tế.

Bởi vậy ngoài hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy thì đường hàng không rất quan trọng cho sự giao lưu quốc tế và trong nước trong thời đại khoa học phát triển. Việc xây dựng mới các cảng hàng không, nâng cấp các sân bay cũng phải phù hợp với yêu cầu phát triển của hệ thống đô thị và các điểm dân cư ở Việt Nam.

Tuy nhiên, theo KTS Chính, vị trí sân bay thứ 2 phải được xem xét ở 3 vị trí: Ứng Hòa ; Hải Dương và Phủ lý. Theo đánh giá, thì vị trí ở Hải Dương có vẻ phù hợp là địa điểm quy hoạch sân bay thứ 2 của Thủ đô.

Mặt khác, nếu không có quy hoạch thì không có cơ sở để giữ đất được (ví dụ như sân bay Long Thành) hoặc việc mở rộng phía Nam sân bay Nội Bài là rất khó khăn trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng của 647 ha khi mà ở khu vực này có mật độ dân cư đông đúc (mặc dù đã được quy hoạch hàng chục năm trước đây).

Vì vậy đề nghị sân bay thứ 2 ở Thủ đô nên được nghiên cứu đưa vào quy hoạch, lựa chọn địa điểm chính xác khi đã có tiêu chí về đường bay, không gian kiểm soát, đất đai, phương án đền bù giải tỏa, tính chất cơ lý của đất đai (độ nén của đất). Nên chọn quy hoạch để được phê duyệt.

Trong quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội theo Quyết định 1259/QĐ-TTg năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt sân bay Nội Bài chỉ dừng lại ở quy mô 50 triệu hành khách/năm (thêm ga T3, T4 và một đường cất hạ cánh phía Nam).

Mặt khác nếu đưa công suất sân bay Nội Bài lên 100 triệu hành khách/năm là bất hợp lý bởi (1) Thêm đường trên cao từ đường Võ Nguyên Giáp; (2) Nối vành đai 3,5 vào nhà ga ; (3) Có hai tuyến đường sắt số 6 và số 2 kết nối. Đặc biệt đường trên cao của Đại lộ Võ Nguyên Giáp sẽ phá vỡ quy hoạch trục đô thị quan trọng này. Hơn thế chúng ta tập trung giao thông quá dày đặc vào phía Bắc Sông Hồng (Thủ đô) mà phía Nam Sông Hồng- phía Nam Hà Nội lại thiếu giao thông kết nối.

Sân bay là một cơ sở kinh tế tạo vùng quan trọng nên cần có một sân bay quốc tế thứ 2 cho Thủ đô ở phía Nam (ví dụ Hải Dương) sẽ phục vụ cho các đô thị và điểm dân cư khoảng 20 triệu người cho các tỉnh Tây Bắc, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định và đặc biệt là Nam Hà Nội. Sân bay này sẽ là một điểm nhấn của Vùng Thủ đô và của Hà Nội những năm 2030- 2050 với công suất có thể lên tới 100 triệu khách/năm. Sân bay thứ 2 Vùng Thủ đô sẽ là một điểm sáng về kinh tế và kiến trúc của Hà Nội và Vùng Thủ đô.

HT.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.