Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 26/09/2008 23:46 (GMT+7)

Năm 1946, nước Việt Nam độc lập muốn đẩy mạnh giao thương với Mỹ

Giao thương với “đại cường quốc kinh tế” có lợi nhiều mặt

Bài viết của ông Nguyễn Mạnh Tư tuy bàn về chuyện xuất khẩu hàng của Mỹ và cao hơn nữa là lợi ích buôn bán của cả hai bên. Với cách viết rất ấn tượng, phần nhập đềcủa bài viết lại chính là một bảng số liệu mua bán giữa Đông Dương va Hoa Kỳ từ năm 1935 - 1942, thời kỳ trước chiến tranh thế giới (2). Qua đó, cho thấy cả xuất và nhập giữa hai bên đều gia tăngliên tục với đỉnh cao là năm 1940 - trước khi Nhật xâm chiếm Đông Dương. Vào năm ấy, kim ngạch xuất khẩu của Đông Dương vào Mỹ đã tăng hơn 11 lần (1935: 5,5 triệu USD; 1940: 64,4 triệu USD). Còn kimngạch xuất khẩu của Mỹ vào Đông Dương tăng đến 20 lần (1935: 2,1 triệu USD; 1940: 23,89 triệu USD). Những số liệu này cho thấy quan hệ hai chiều, có lợi cho cả hai phía và đang ở hướng gia tăng nếunhư không có chiến tranh ngăn trở!

Dưới bảng số liệu trên, tác giả đưa ra lời nhận xét tổng quát: “Hoa Kỳ là khách hàng thứ tư của nước Việt Nam, tiêu thụ một phần sản xuất của Việt Nam . Liên bang Hoa Kỳ rất chú trọng về việc nhập cảng những nguyên liệu, những sản vật mà Việt Nam thường đem bán cho ngoại quốc” (3). Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh Hoa Kỳ là “một đại cường quốc về kinh tế” và có “một mại lục thứ nhất hoàn cầu”. Do vậy, tác giả cho rằng Việt Nam có thể xuất cảng nhiều hàng hoá, sản vật sang Mỹ, nhất là khu vực miền Tây nước Mỹ có năng lực kinh tế ngày càng tăng tiến. Hơn nữa, giao thương Việt - Mỹ, có sẵn vị trí địa lý thuận lợi là cả hai nước đều nằm bên bờ Thái Bình Dương, trong đó phía Mỹ đã có nhiều hải cảng quen việc buôn bán với Viễn Đông như Seattle, Portland, San Francisco, Los Angeles (tr 17).

Rải rác trong các đoạn sau, tác giả còn lưu ý không những Mỹ có thể tiêu thụ nhiều hàng Việt Nammà ngay cả Việt Nam cũng cần thiết tiêu thụ hàng của Mỹ như xăng dầu và sợi dệt. Ở một đoạn khác, khi trình bày về việc đẩy mạnh sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, tác giả cho rằng việc này còn nhằm đến việc giải quyết công ăn việc làm cho người dân ở các miền Thượng du, Trung châu và vùng duyên hải miền Trung là những nơi dư thừa lao động.

Bán cái người ta cần - mua cái người ta có

Khi trình bày về những mặt hàng Việt Namcó thể gia tăng xuất khẩu sang Mỹ, ông Nguyễn Manh Tư đã không dừng lại ở những mặt hàng xuất khẩu sẵn có của Việt Nam thời thuộc địa như gạo, ngô, cao su, than đá. Quan điểm của ông rất rõ: “Nên điều tra rất kỹ càng về những hàng hoá mà Hoa Kỳ có thể mua của ta để làm tăng những sự giao dịch của hai nước về thương mại”. Và theo sự điều tra của tác giả thời ấy, Mỹ sẽ không cần mua gạo và ngô của Việt Nam vì Mỹ sản xuất dư thừa những mặt hàng này. Với cao su, than đá, kẽm và thiếc, tác giả cho biết trước chiến tranh, Việt Nam đã xuất cho Mỹ những mặt hàng này. Sau chiến tranh, Mỹ vẫn rất cần chúng, nhất là than đá anthracite, nhưng muốn tăng xuất khẩu hai bên phải tìm cách giảm cước phí vận tải.

Ngoài những mặt hàng trên, Việt Namphải nghĩ đến những mặt hàng mà Mỹ đang nhập nhiều từ nước khác mà Việt Nam có thể sản xuất được. Theo tìm hiểu của tác giả, đó là chè (Việt Nam phải cạnh tranh với Trung Quốc và Nhật), hồ tiêu (Nam Dương - Indonesia), quế (Trung Quốc), quả Thanh yên (các nước Địa Trung Hải), dầu Chẩu và các loại dầu thảo mộc (Trung Quốc), lâm sản và hàng mỹ nghệ mây tre lá, kim hoàn (Trung Quốc, Nhật Bản). Kể cả một vật nhỏ - cái cần câu bằng tre, tác giả cho rằng nên làm nhiều để bán qua bởi “người Mỹ rất thích đi câu cá”.

Vượt qua 3 trở lực để đẩy mạnh giao thương

Văn phòng Tổng công ty SeaProdex ngày nay là nơi đặt trụ sở đầu tiên của Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Văn phòng Tổng công ty SeaProdex ngày nay là nơi đặt trụ sở đầu tiên của Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Trong giao thương Việt - Mỹ vào thời đó, tác giả nhìn thấy có 3 trở lực. Đó là việc thiếu quảng bá, tiếp thị hàng hoá Việt Nam ở Mỹ, việc thiếu phương tiện vận tải trực tiếp và việc thiếunhững doanh nghiệp, những tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu theo quy mô lớn. Trong đó, tác giả rất chú ý đến trở lực đầu tiên và đã đưa ra những giải pháp khả thi cho vấn đề này.

Một cách rất tâm huyết và khá cặn kẽ, tác giả đặt vấn đề Việt Nam phải chấp nhận và phải quyết liệt cạnh tranh với các nước khác trong xuất khẩu vào Mỹ. Nhiều lần, tác giả bày tỏ nỗi day dứt hàng Việt Nam có chất lượng tốt không thua kém, thậm chí hơn hẳn những mặt hàng cùng loại của các nước khác nhưng người Mỹ lại chưa biết đến. Chẳng hạn, chè người Mỹ ưa dùng Hồng trà là thứ ta có thể trồng nhiều trên cao nguyên. Do vậy, muốn xuất khẩu chè qua Mỹ thì “phải quảng cáo để cho người Mỹ được thưởng thức chè của ta và một khi đã dùng qua chè của ta thì không muốn dùng chè khác nữa” (tr 17). Hoặc như quế (trong đó có loại quế được Mỹ gọi là Saigon Cassia), và dầu chẩu là hai sản phẩm Việt Nam trong thực tế đã bán sang Mỹ nhưng phải qua trung gian là Trung Quốc và Hồng Kông nên ta “mất mồi lời”, chưa kể người Mỹ không mua được hàng tốt nhất của Việt Nam (tr 18, 20). Trong phần kết luận, tác giả khẳng định: “Các hàng hoá của ta không được Mỹ biết tới. Ta cần phải quảng cáo để cho ở các thị trường Hoa Kỳ, các nhà nhập cảng biết rõ các nguyên liệu, các sản vật của ta về phẩm và lượng, để ta có thể giao thiệp trực tiếp với họ để giành lấy một phần lời mà từ trước tới nay các người trung gian khấu mất”.

Tác giả còn cho rằng Việt Nam phải đem hàng sang các đấu xảo (hội chợ - triển lãm) và đấy là “cách quảng cáo mầu nghiệm nhất”. Thêm nữa, phải thiết lập ở Mỹ nhiều “thương điếm”.

Bài viết của ông Nguyễn Mạnh Tư, tuy chỉ có 4.142 chữ nhưng rất xứng đáng được coi là một tờ trình có giá trị cho Chính phủ để xây dựng chính sách ngoại thương của nước Việt Nam độc lập. Vào thời điểm đó, khi chính sách và bộ máy điều hành kinh tế còn phôi thai, cục diện thế giới và Việt Nam sau đại chiến còn nhiều phức tạp thì việc tác giả tập hợp số liệu và phân tích, nhất là đưa ra quan điểm buôn bán chủ động xuất, chủ động nhập, chủ động nghiên cứu thị trường, tính toán lợi ích kinh tế nhiều mặt với Mỹ là rất đáng quý. Nó phản ánh tư duy kinh tế hiện đại, rất gần gũi với tư duy kinh tế ngày nay là liên lập và đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong thời kỳ toàn cầu hoá. Chúng tôi rất tiếc chưa tìm được tư liệu về tác giả để làm rõ thêm bối cảnh và mục tiêu của bài viết nhưng với những gì tác giả đã thể hiện trong bài thì chúng tôi tin rằng bài viết này đã xuất phát từ một tấm lòng yêu nước, rất đáng trân trọng.

Chú thích:

1. Tài liệu báo chí đang lưu tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TPHCM.

2. Tác giả không ghi nguồn số liệu trích dẫn trừ chú thích số liệu năm 1938 là theo thống kê của Sổ Thương chính Hoa Kỳ hoặc Sở Thương chính Hoa Kỳ. Chữ Sổ hay Sở đọc không rõ vì bản in lâu ngày. Tất nhiên những số liệu này đều có thể đối chiếu với các số liệu thống kê kinh tế chính thức của Đông Dương.

3. Tác giả không nêu ra vị trí và thứ tự các khách hàng khác. Tuy nhiên, tham khảo bài viết, Nền thương mại Việt nam qua chiến tranh(tr 32, 41, số 1 Việt Nam Kinh tế, Nguyệt san, 4 - 1946), ta có thể thấy vị trí các đối tác thương mại của Đông Dương từ 1937 - 1939 lần lượt như sau: 1/ Pháp, 2/ Các thuộc địa Pháp, 3/ Nhật, 4/ Hoa Kỳ, 5/ Trung Quốc, 6/ Hồng Kông, 7/ Singapore và 8/ Anh.

Nguồn: Xưa & Nay, số 298, 12 - 2007, tr 21

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.