Năm 1946, nước Việt Nam độc lập muốn đẩy mạnh giao thương với Mỹ
Giao thương với “đại cường quốc kinh tế” có lợi nhiều mặt
![]() |
Dưới bảng số liệu trên, tác giả đưa ra lời nhận xét tổng quát: “Hoa Kỳ là khách hàng thứ tư của nước Việt Nam, tiêu thụ một phần sản xuất của Việt Nam . Liên bang Hoa Kỳ rất chú trọng về việc nhập cảng những nguyên liệu, những sản vật mà Việt Nam thường đem bán cho ngoại quốc” (3). Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh Hoa Kỳ là “một đại cường quốc về kinh tế” và có “một mại lục thứ nhất hoàn cầu”. Do vậy, tác giả cho rằng Việt Nam có thể xuất cảng nhiều hàng hoá, sản vật sang Mỹ, nhất là khu vực miền Tây nước Mỹ có năng lực kinh tế ngày càng tăng tiến. Hơn nữa, giao thương Việt - Mỹ, có sẵn vị trí địa lý thuận lợi là cả hai nước đều nằm bên bờ Thái Bình Dương, trong đó phía Mỹ đã có nhiều hải cảng quen việc buôn bán với Viễn Đông như Seattle, Portland, San Francisco, Los Angeles (tr 17).
Rải rác trong các đoạn sau, tác giả còn lưu ý không những Mỹ có thể tiêu thụ nhiều hàng Việt Nammà ngay cả Việt Nam cũng cần thiết tiêu thụ hàng của Mỹ như xăng dầu và sợi dệt. Ở một đoạn khác, khi trình bày về việc đẩy mạnh sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, tác giả cho rằng việc này còn nhằm đến việc giải quyết công ăn việc làm cho người dân ở các miền Thượng du, Trung châu và vùng duyên hải miền Trung là những nơi dư thừa lao động.
Bán cái người ta cần - mua cái người ta có
Khi trình bày về những mặt hàng Việt Namcó thể gia tăng xuất khẩu sang Mỹ, ông Nguyễn Manh Tư đã không dừng lại ở những mặt hàng xuất khẩu sẵn có của Việt Nam thời thuộc địa như gạo, ngô, cao su, than đá. Quan điểm của ông rất rõ: “Nên điều tra rất kỹ càng về những hàng hoá mà Hoa Kỳ có thể mua của ta để làm tăng những sự giao dịch của hai nước về thương mại”. Và theo sự điều tra của tác giả thời ấy, Mỹ sẽ không cần mua gạo và ngô của Việt Nam vì Mỹ sản xuất dư thừa những mặt hàng này. Với cao su, than đá, kẽm và thiếc, tác giả cho biết trước chiến tranh, Việt Nam đã xuất cho Mỹ những mặt hàng này. Sau chiến tranh, Mỹ vẫn rất cần chúng, nhất là than đá anthracite, nhưng muốn tăng xuất khẩu hai bên phải tìm cách giảm cước phí vận tải.
Ngoài những mặt hàng trên, Việt Namphải nghĩ đến những mặt hàng mà Mỹ đang nhập nhiều từ nước khác mà Việt Nam có thể sản xuất được. Theo tìm hiểu của tác giả, đó là chè (Việt Nam phải cạnh tranh với Trung Quốc và Nhật), hồ tiêu (Nam Dương - Indonesia), quế (Trung Quốc), quả Thanh yên (các nước Địa Trung Hải), dầu Chẩu và các loại dầu thảo mộc (Trung Quốc), lâm sản và hàng mỹ nghệ mây tre lá, kim hoàn (Trung Quốc, Nhật Bản). Kể cả một vật nhỏ - cái cần câu bằng tre, tác giả cho rằng nên làm nhiều để bán qua bởi “người Mỹ rất thích đi câu cá”.
Vượt qua 3 trở lực để đẩy mạnh giao thương
![]() |
Văn phòng Tổng công ty SeaProdex ngày nay là nơi đặt trụ sở đầu tiên của Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam |
Một cách rất tâm huyết và khá cặn kẽ, tác giả đặt vấn đề Việt Nam phải chấp nhận và phải quyết liệt cạnh tranh với các nước khác trong xuất khẩu vào Mỹ. Nhiều lần, tác giả bày tỏ nỗi day dứt hàng Việt Nam có chất lượng tốt không thua kém, thậm chí hơn hẳn những mặt hàng cùng loại của các nước khác nhưng người Mỹ lại chưa biết đến. Chẳng hạn, chè người Mỹ ưa dùng Hồng trà là thứ ta có thể trồng nhiều trên cao nguyên. Do vậy, muốn xuất khẩu chè qua Mỹ thì “phải quảng cáo để cho người Mỹ được thưởng thức chè của ta và một khi đã dùng qua chè của ta thì không muốn dùng chè khác nữa” (tr 17). Hoặc như quế (trong đó có loại quế được Mỹ gọi là Saigon Cassia), và dầu chẩu là hai sản phẩm Việt Nam trong thực tế đã bán sang Mỹ nhưng phải qua trung gian là Trung Quốc và Hồng Kông nên ta “mất mồi lời”, chưa kể người Mỹ không mua được hàng tốt nhất của Việt Nam (tr 18, 20). Trong phần kết luận, tác giả khẳng định: “Các hàng hoá của ta không được Mỹ biết tới. Ta cần phải quảng cáo để cho ở các thị trường Hoa Kỳ, các nhà nhập cảng biết rõ các nguyên liệu, các sản vật của ta về phẩm và lượng, để ta có thể giao thiệp trực tiếp với họ để giành lấy một phần lời mà từ trước tới nay các người trung gian khấu mất”.
Tác giả còn cho rằng Việt Nam phải đem hàng sang các đấu xảo (hội chợ - triển lãm) và đấy là “cách quảng cáo mầu nghiệm nhất”. Thêm nữa, phải thiết lập ở Mỹ nhiều “thương điếm”.
Bài viết của ông Nguyễn Mạnh Tư, tuy chỉ có 4.142 chữ nhưng rất xứng đáng được coi là một tờ trình có giá trị cho Chính phủ để xây dựng chính sách ngoại thương của nước Việt Nam độc lập. Vào thời điểm đó, khi chính sách và bộ máy điều hành kinh tế còn phôi thai, cục diện thế giới và Việt Nam sau đại chiến còn nhiều phức tạp thì việc tác giả tập hợp số liệu và phân tích, nhất là đưa ra quan điểm buôn bán chủ động xuất, chủ động nhập, chủ động nghiên cứu thị trường, tính toán lợi ích kinh tế nhiều mặt với Mỹ là rất đáng quý. Nó phản ánh tư duy kinh tế hiện đại, rất gần gũi với tư duy kinh tế ngày nay là liên lập và đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong thời kỳ toàn cầu hoá. Chúng tôi rất tiếc chưa tìm được tư liệu về tác giả để làm rõ thêm bối cảnh và mục tiêu của bài viết nhưng với những gì tác giả đã thể hiện trong bài thì chúng tôi tin rằng bài viết này đã xuất phát từ một tấm lòng yêu nước, rất đáng trân trọng.
Chú thích:
1. Tài liệu báo chí đang lưu tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TPHCM.
2. Tác giả không ghi nguồn số liệu trích dẫn trừ chú thích số liệu năm 1938 là theo thống kê của Sổ Thương chính Hoa Kỳ hoặc Sở Thương chính Hoa Kỳ. Chữ Sổ hay Sở đọc không rõ vì bản in lâu ngày. Tất nhiên những số liệu này đều có thể đối chiếu với các số liệu thống kê kinh tế chính thức của Đông Dương.
3. Tác giả không nêu ra vị trí và thứ tự các khách hàng khác. Tuy nhiên, tham khảo bài viết, Nền thương mại Việt nam qua chiến tranh(tr 32, 41, số 1 Việt Nam Kinh tế, Nguyệt san, 4 - 1946), ta có thể thấy vị trí các đối tác thương mại của Đông Dương từ 1937 - 1939 lần lượt như sau: 1/ Pháp, 2/ Các thuộc địa Pháp, 3/ Nhật, 4/ Hoa Kỳ, 5/ Trung Quốc, 6/ Hồng Kông, 7/ Singapore và 8/ Anh.
Nguồn: Xưa & Nay, số 298, 12 - 2007, tr 21










