Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 29/08/2006 00:08 (GMT+7)

Một chú thích sai vị trí lúc đầu của đền Đồng Cổ

“Miếu làm tại thôn Đông, làng Yên Thái, huyện Vĩnh Thuận đời sau (làng Bưởi ở Hà Nội).

Sách Việt Nam sử lượccủa Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh tái bản tháng 3-2005, trang 89, cũng ghi: “Cứ hàng năm, các quan phải đến đền Đồng Cổ (ở làng Yên Thái, Hà Nội), và nhiều tài liệu cũng theo và ghi như vậy. Tất nhiên những ghi chú này là của người đương đại, thấy đền Đồng Cổ hiện tại ở đây thì ghi như vậy, chứ Đại Việt sử lý toàn thưchỉ viết: “Phong tước vương cho thần núi Đồng Cổ, dựng miếu để tuế thời cúng tế và làm lễ thề. Trước đây, trước khi ba vương làm phản một ngày, vua chiêm bao thấy một người tự xưng là thần núi Đồng Cổ nói với vua về việc ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh làm loạn, nên bảo đem quân đi đánh ngay đi. Đến khi tỉnh dậy, sai phòng bị, quả nhiên ứng nghiệm. Đến đây chiếu cho Hữu tỉ dựng miếu ở bên hữu thành Đại La liền sau chùa Thánh Thọ, lấy ngày 25 tháng ấy đắp đàn, cắm cờ xí, dàn đội ngũ, treo gươm giáo, ở trước thần vị đọc lời thề rằng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”. Các quan từ cửa Đông đi vào đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng 3 gặp ngày quốc kỵ, hoãn đến ngày mồng 4 tháng 4.

Ngày nay, qua sử liệu và một số tấm bản đồ xưa, chúng ta đều biết, từ thượng cổ cho đến sau thời Hồng Đức, sông Tô Lịch là một phân lưu của sông Hồng. Từ vùng chợ gạo nó chảy lượn qua một số phố cổ, rồi chảy dọc theo vòng hoàng thành phía Bắc (đường Hoàng Hoa Thám) đến vùng Bưởi thì nối với sông Thiên Phù (từ vùng Phú Gia ngày nay), hai sông hoà dòng chảy xuống phía nam. Tấm bản đồ thời Hồng Đức 1490 còn ghi lại rất rõ vị trí hai dòng sông này.

Vào thời Lý năm 1028 thì sông Tô Lịch rất rộng và hoang sơ, bởi đến năm 1044 khi “vua đi đánh Chiêm Thành, thắng trận về Thăng Long, vua sai lấy con voi nhà của Chiêm Thành để trong cũi lớn ở Dâm Đàm (Hồ Tây) để làm mồi nhử voi rừng vào trong ấy vua thân đến bắt. Từ lúc dựng đền Đồng Cổ, 16 năm sau mà Hồ Tây vẫn còn là rừng như vậy, huống chi sông Tô? Căn cứ vào vệt cũ ngày nay thì có thể ước đoán, nếu bờ sông bên này là làng Đông Xã, Hồ Khẩu thì bờ bên kia là hoàng thành Thăng Long (tức đường Hoàng Hoa Thám ngày nay). Lòng sông rộng tới gần 1000m. Vào mùa thu, nước cuốn băng băng dữ dội. Đại Việt sử ký toàn thưghi nhiều lần đê vỡ vào thời Trần, thời Lê. Ví dụ: “Mùa thu, tháng 7-1238 (thời Trần) nước to vỡ các cung Thưởng Xuân”; “Mùa thu, tháng 8 (1243) nước to, vỡ vào thành Đại La”; “1475 (thời vua Lê Thánh Tông), vỡ đê sông Tô Lịch ở phường Kim Cổ”.

Thế thì tại sao thời Lý, nhà vua lại cho dựng đền để tế thần ở dưới bờ sông như vị trí ngày nay ở làng Đông Xã, phường Bưởi? Trên là bờ thành cao, dưới là mép nước sông chảy băng băng. Lại còn chùa Thánh Thọ ở đâu? vùng này không hề có dấu vết gì về ngôi chùa ấy.

Ngày nay, qua sử sách có thể thấy rằng: vào đầu triều vua Lý, khu vực cấm thành chỉ ở quãng thành cổ có điện Kính Thiên bây giờ, về phía Bắc và phía Tây có con đê thành Đại La (còn gọi là hoàng thành Thăng Long), ôm lấy cả vùng Thập Tam Trại rộng lớn. Ông Hoàng Lệ Mật được vua cho khai phá lập nên 13 trại, tuy là truyền thuyết nhưng chứng tỏ vào thời này, đất đai bên trong hoàng thành còn rất rộng, thì hà cớ gì nhà vua lại phải xây đền cạnh bờ sông, để vào tháng tư mưa nhiều, nước chảy xiết thì lễ làm sao được?

Cửa sông đầu nguồn phải có hơn 600 năm sau mới bị lấp, như sách Vũ Trung tuỳ bútcủa Phạm Đình Hổ đã viết về việc hàn cửa khẩu sông, ước đoán vào giữa thời Lê Trung Hưng. Từ lúc sông Tô bị lấp đầu nguồn, trải hàng trăm năm sau, sông thu hẹp và cạn dần, mới có bãi bồi để xây đền như ngày nay.

Lại còn trong tấm bản đồ vẽ thành Thăng Long thời Lý Trần (1020-1400), được công bố có tính tham khảo những năm trước đây. Xem tấm bản đồ này, khu vực cấm thành và hoàng thành cũng có thể tạm chấp nhận (bởi vẽ theo lối hoạ đồ ước lệ). Nhưng vùng ngoại vi thì địa thế này là ở thời cuối Lê Trung Hưng, vì lúc này Hồ Gươm đã bị lấp thành “Nhất điệp xuyên hoa” không còn là nhánh cụt của sông Hồng nữa (so bản đồ thời Hồng Đức) còn hai chỗ nối giữa Hồ Tây với sông Tô có đền Đồng Cổ ngày nay, người vẽ lại chấm một cái rồi ghi là đền Đồng Cổ. Do đó có thể nói, bản đồ này được vẽ vào thời Nguyễn, người vẽ dựa vào một cuốn sách nào đó vẽ vùng cấm thành và hoàng thành, rồi phóng tác vẽ vùng ngoại vi theo con mắt người đương đại. Chứ theo tấm bản đồ Trung Đô vẽ thời Hồng Đức là bản đồ tin cậy nhất, thì không có cái chấm này.

Vậy thì đền Đồng Cổ được xây vào thời Lý 1028 ở đâu? Theo người viết bài này, thì lúc đầu đền ở bên trong hoàng thành. Sau đó trải qua các triều Lý, Trần, khu vực cấm thành được mở rộng, mà tường thành phía tây đã từ Liễu Giai vuông góc với Cống Đõ (người xưa gọi là ngòi Long Khê) làng Hồ Khẩu ngày nay, nên đền đã di chuyển sang làng Thuỵ Chương (Thụy Khuê) bởi làng này vào thời Hậu Lê bị nước bao quanh như một hòn đảo, dân cư thưa thớt (xem bản đồ Trung Đô thời Hồng Đức).

Trong số báo tết Xuân Nhâm Ngọ 2002, tạp chí Văn hoá nghệ thuật ăn uốngcủa Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam có đăng bài: “Bát cảnh Tây Hồ” của Đỗ Quốc Bảo, về đền Đồng Cổ, tác giả viết: “Vua Lý Thái Tông (1028-1054) cho lập đàn Đồng Cổ ở làng Thụy Chương. Kiến trúc gồm 2 tầng, tầng dưới để vua ngự mỗi khi đến thăm, tầng trên để thờ thần. Hàng năm vào hai kỳ xuân thu, nhà vua ra đây làm lễ tế trời đất, thần linh, rồi cùng văn võ bá quan thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung thì thần minh tru diệt”. Đáng tiếc vào cuối đời nhà Lê, nghịch quân Tam phủ đã phá mất đền Đồng Cổ.

Nhưng theo người viết bài này thì lúc đầu đền Đồng Cổ chưa xây ở Thụy Chương, bởi cách sông nước, vả lại sách Đại Việt sử ký toàn thưchép là: “Các quan từ cửa Đông đi vào” như vậy là lúc đầu đền ở gần ngay trong thành cổ bây giờ. Có thể đến đời vua Lê Tương Dực đã đắp thành rộng tới khu vực Hàng Da (phường Kim Cổ) và xây cống qua sông Tô Lịch hoặc vào đầu thời Lê Trung Hưng thì đàn thề mới chuyển về Thụy Chương. Đến cuối thời Trung Hưng, vua Lê Chiêu Thống cho đốt phủ chúa Trịnh, san phẳng rừng bàng Yên Thái, tiện thể phá luôn cả đàn thề đền Đồng Cổ ở Thụy Chương. Trong sách Phố phường Hà Nội xưa, cụ Hoàng Đạo Thuý viết: “Nhưng khi Chiêu Thống trả thù thì đốt trụi tuốt cả. Phong kiến hay đốt những cái gì là của triều đại cũ, chả nghĩ rằng đó là công sức của nhân dân”.

Một bằng chứng nữa là, trong Du Tây Hồ bát tuyệt, nhà thơ Cao Bá Quát thế kỹ XIX đã viết:

“Cờ dong lối ngự nơi này cũ

Cỏ áy đàn giao nhuốm gió thu”...

Đàn Giao đây là đền Đồng Cổ ở Thụy Chương ven Hồ Tây đã mất, nên nhà thơ mới hoài tưởng, chứ đàn Nam Giao để tế trời đất thời Lê, thì lại ở quận Hai Bà Trưng (chỗ nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo ngày nay), còn đền Đồng Cổ ở Đông Xã thì lại nằm kềnh bên kia sông Tô cách xa Hồ Tây.

Qua những tư liệu trên có thể xác định, đền Đồng Cổ thời Lý được xây dựng ở trong thành, mấy trăm năm sau, được di chuyển sang làng Thụy Chương. Rồi đến cuối thời Lê Trung Hưng đều bị phá. Nhân dân đã di chuyển về vị trí ngày nay. Lúc đầu chỉ là ngôi miếu nhỏ, bên bãi sông Tô đã được bồi rộng. Từ thời đổi mới đến nay được nhân dân công đức, cùng với kinh phí của thủ đô Hà Nội, đền được xây khang trang đẹp dẽ như ngày nay.

Tuy vậy, đền Đồng Cổ ở làng Đông Xã, phường Bưởi, quân Tây Hồ ngày nay, không phải vì thế mà mất đi tính thiêng liêng của lịch sử. Đền vẫn là nơi kết thừa một ngôi đền có từ thời Lý. Ví như chùa Trấn Quốc bên Hồ Tây, là tiền thân của chùa Khai Quốc từ thời vua Lý Nam Đế (544-548), bởi lúc đầu dựng chùa ở bãi Yên Hoa sát sông Hồng, mãi đến thời vua Lê Kính Tông (1615), vì bãi sông bị xói lở, chùa mới được di dời về đây.

Đền Đồng Cổ ngày nay quả là một di tích quý giá khởi nguồn lịch sử từ thời Lý. Do ‘biển dâu biến đổi” nên có sự xê dịch, nhưng hiện tại ngôi đền rất đẹp. Ngoài ngôi đền chính thờ thần, trống đồng còn có chiếc trống đồng do Hội Khoa học lịch sử tặng. Có phương đình 8 mái, hai bên có nhà tảo mạc, hữu mạc và sân đền rất rộng, nhiều cây xanh che mát với bốn mùa hoa nở toả hương thơm ngát. Cảnh đền thật tĩnh lặng và cổ kính. Tính giáo dục của ngôi đền thì từ xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Xưa trung với vua, hiếu với nước. Nay trung với nước, hiếu với dân. Ngôi đền góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, giáo dục đạo đức cho nhân dân.

Nguồn: Xưa & Nay, số 263,7/2006, tr 22 - 23

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đắk Lắk: Đội ngũ trí thức đồng hành cùng báo chí cách mạng
Thông qua các công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu, hoạt động tư vấn, phản biện xã hội và truyền thông khoa học, đội ngũ trí thức Đắk Lắk đã góp phần làm phong phú nội dung báo chí, lan tỏa tri thức, định hướng dư luận xã hội và cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn phục vụ sự phát triển của địa phương trong thời kỳ mới.
Bà Hà Hoàng Yến làm Giám đốc Quỹ VIFOTEC
Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phan Xuân Dũng mong muốn bà Hà Hoàng Yến trên cương vị Giám đốc Quỹ VIFOTEC tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, sâu sát, phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ mới được phân công để góp phần cùng tập thể cán bộ Quỹ VIFOTEC vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
DigiFest 2026 và tinh thần đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Tại Diễn đàn quốc gia số Việt Nam - DigiFest 2026 vừa qua, các chuyên gia khẳng định, chuyển đổi số không đơn thuần là việc số hóa những quy trình cũ, mà phải kiến tạo những phương thức vận hành mới dựa trên công nghệ số để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp;tạo ra giá trị mới và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.