Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 18/10/2012 23:11 (GMT+7)

Môn Lịch sử trong trường phổ thông: Rất đáng lo ngại

Nguyên nhân sâu xa cần tìm kiếm đầy đủ trong nội dung và phương pháp giảng dạy, trong sách giáo khoa, trong chương trình môn học và cả trong công việc đào tạo đội ngũ giáo viên môn Lịch sử.   

Hiện nay môn Lịch sử là môn học bị coi thường nhất trong các trường phổ thông. Minh chứng rõ nét nhất là trong các môn thi tốt nghiệp phổ thông, môn lịch sử bị coi là môn phụ, có năm thi có năm không. Năm nào không thi thì nhà trường cho học dồn để dành thời gian cho các môn khác. Thày/cô giáo dạy Sử cũng dễ dàng được thay thế bằng thày/cô giáo các môn khác, có khi là môn thể thao chẳng hiểu gì về lịch sử. Một môn học đã bị coi nhẹ đến như vậy thì làm sao có thể nhận được sự quan tâm của học sinh.

Đối với bất cứ nước nào, môn Lịch sử đều có chức năng quan trọng trong đào tạo năng lực của học sinh. Trong năng lực của học sinh, tôi cho quan trọng bậc nhất là nhân cách, là tư duy độc lập sáng tạo, là những tố chất tạo nên bản lĩnh con người trong đó kiến thức cơ bản và giá trị lịch sử văn hóa là nền tảng.

Riêng đối với Việt Nam, lịch sử càng giữ vai trò cực kỳ quan trọng  gắn liền với sự tồn vong của quốc gia-dân tộc. Do vị trí địa-chính trị và địa-quân sự, từ khi hình thành Nhà nước đầu tiên cho đến nay, nước ta phải đương đầu với nhiều nguy cơ xâm lược đến từ các đế chế lớn của châu Á, châu Mỹ, châu Âu, trong đó gần như thường xuyên là các đế chế Đại Hán phương Bắc.

Chỉ tính riêng về thời gian, kể từ cuộc kháng chiến chống Tần vào khoảng năm 214-210 trước Công nguyên đến chiến tranh biên giới phía Tây Nam, phía Bắc năm 1979, thời gian chống xâm lược và đô hộ nước ngoài đã chiếm trên 20 thế kỷ, trong đó thời kỳ Bắc thuộc hơn nghìn năm, Minh thuộc 20 năm, Pháp thuộc gần 80 năm.

Trong điều kiện tương quan lực lượng hết sức chênh lệch giữa ta và đối phương, con đường chiến thắng của dân tộc là phải phát huy tất cả sức mạnh của cả nước đánh giặc, toàn dân đánh giặc, trong đó chủ nghĩa yêu nước, sự đoàn kết dân tộc và trí thông minh là nhân tố quyết định. Nhân dân ta sáng tạo ra lịch sử với tất cả công sức và tính mạng của mình nên rất yêu mến lịch sử, qua lịch sử nuôi dưỡng ý chí dân tộc và lưu truyền cả một kho tàng kinh nghiệm đánh giặc rất phong phú, sáng tạo. 

Trước đây khi mà nhà trường và thi cử chỉ dành cho một thiểu số người thì văn hóa dân gian với những lời mẹ ru con, ca dao, tục ngữ, dân ca, lễ hội… là môi trường và nội dung giáo dục lịch sử của nhân dân. Ngày nay nhiệm vụ xây dựng đất nước vẫn gắn chặt với nhiệm bảo vệ đất nước, giữ gìn chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc.

Thế hệ trẻ lớn lên qua nền giáo dục phổ thông mà không yêu mến lịch sử dân tộc, không có một vốn hiểu biết cần thiết về lịch sử và văn hóa dân tộc và nhân loại,  không có một niềm tự tin dân tộc, không kế thừa các truyền thống dân tộc, thì làm sao có thể hoàn chỉnh được phẩm chất của người công dân Việt Nam. Từ đặc điểm đó, môn Lịch sử càng phải được đặt đúng vị thế và chức năng của nó trong hệ thống giáo dục phổ thông. 

Cũng cần nói thêm là sau cấp học phổ thông, chỉ cần một số rất ít học sinh thi vào các chuyên ngành Lịch sử, nhưng đó phải là những học sinh thực sự yêu mến lịch sử, có năng lực về lịch sử để được đào tạo thành những tài năng trẻ về sử học chứ  không phải là những học sinh tự thấy yếu kém về mọi môn học và đành chọn ngành Lịch sử như một tính toán bất đắc dĩ.  

Theo tôi năng lực con người là tổng hòa của nhiều nhân tố hợp thành, không chỉ có kiến thức và kỹ năng mà còn bao gồm cả nhân cách, tư duy, cách ứng xử…Trong bồi dưỡng và phát triển năng lực học sinh, môn lịch sử ngoài mối quan hệ tích hợp với các môn học khác, giữ vai trò quan trọng trong trang bị một vốn hiểu biết về lịch sử cần được chọn lọc phù hợp với mục tiêu và đặc điểm lứa tuổi, cấp học, từ đó bồi dưỡng nhân cách, tư duy, bản lĩnh, cách ứng xử của học sinh. 

Kiến thức lịch sử mênh mông và luôn luôn được bổ sung bằng những phát hiện mới, kết quả nghiên cứu mới. Vì vậy sách giáo khoa lịch sử nước nào cũng phải biết lựa chọn những kiến thức lịch sử thật cơ bản, tiêu biểu đáp ứng yêu cầu giáo dục để trang bị cho học sinh. Nhưng sách giáo khoa của ta thì trình bày dàn trải, la liệt các sự kiện, rất nặng nề, nhàm chán. Tôi đọc lại sách giáo khoa Lịch sử từ lớp 6 đến lớp 12, về lịch sử Việt Nam có thể đưa ra mấy nhận xét sơ bộ sau đây:

- Phần lịch sử VN từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (lớp 6-7 và 10), ngoài các đấu tranh chống ngoại xâm, mục tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa cứ lặp lại hết thời kỳ này đến thời kỳ khác theo lối dàn trải mà không nêu bật lên những thành tựu, tiến bộ tiêu biểu của mỗi thời kỳ.

- Phần lịch sử từ giữa thế kỷ XIX cho đến năm 1975 (lớp 8-9 và 11-12) lại nặng về lịch sử kháng chiến chống Pháp, phong trào yêu nước, phong trào cách mạng, hai cuộc kháng chiến (1945-1975) cùng một số chuyển biến kinh tế - xã hội nhất định, những biến đổi về tư tưởng, những phát triển văn hóa rất mờ nhạt. Từ 1975 đến 2000 thì trình bày theo các kế hoạch 5 năm với những số liệu nặng nề, không nêu bật lên những điểm tiêu biểu.   

- Nhiều thành tựu nghiên cứu mới về lich sử, sách giáo khoa chưa cập nhật. Một nội dung quan trọng mang tính thời sự hiện nay là lãnh thổ thống nhất và toàn vẹn của Tổ quốc cùng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông hoàn toàn không được đề cập đến trong sách giáo khoa. Đây là một thiếu sót cần khắc phục ngay, không thể chờ đến khi biên soạn lại sách giáo khoa mà sớm nhất đến năm 2015 mới bắt đầu.    

Nói chung, như nhận xét của nhiều nhà sử học, sách giáo khoa Lịch sử phổ thông gần như tóm tắt sách Sử của người lớn để bắt học sinh học. Xét về mặt kiến thức, sách giáo khoa vừa thừa lại vừa thiếu, thừa những cái không cần thiết, thiếu một số nội dung cơ bản, tiêu biểu. 

Cùng với chương trình, sách giáo khoa, vai trò và phương pháp giảng dạy của thày/cô giáo hết sức quan trọng. Dạy và học môn Lịch sử cần được mở rộng với những hình thức như tham quan bảo tàng, nhà lưu niệm, du khảo, dã ngoại… tùy theo khả năng tổ chức và kinh phí, nhất là sự hỗ trợ của giáo cụ trực quan, của công nghệ thông tin…Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông còn cần sự kết hợp với cả môi trường giáo dục của gia đình, xã hội, của các phương tiện thông tin đại chúng…

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.