Môn bạc hà - cây rau để nấu canh
Đặc tính thực vật
Cây thân thảo, đa niên nhờ có rễ củ ngầm dưới đất, có ngó nhảy ra cây non. Lá khá lớn, cuống dài 0,5 - 1 mét, phiến lá hình lọng (cuống lá màu lục nhạt), khá mập có rãnh ôm thân dài bằng ½ cọng, gắn vào giữa lá (cách mép 1/3 lá chứ không phải gắn ở mép lá). Hoa có mo, có thể đơn phái hay lưỡng phái. Cây mọc hoang hay trồng hầu như khắp nơi ở nước ta.
Thành phần dinh dưỡng & hóa học
![]() |
| Dọc mùng (cuống lá Môn bạc hà) |
Rễ (dùng làm thuốc) cũng chứa nhiều dưỡng chất như Môn ngọt (Môn nước).
Toàn cây còn chứa:
- Chất đường hữu cơ như fructose, glucose, amylose, sucrose.
- Axit hữu cơ như citric, oxaliac, malic, succinic.
- Hợp chất phức tạp loại beta-lectin, triglochin và isotriglochin, alocasin.
Đa số các nghiên cứu khoa học chú trọng đến cây Ráy (Alocasia macrorrhiza), tuy nhiên cả 2 cây đều có rễ củ có thành phần hóa học rất tương tự như canxi oxalat, alocasin, sapotoxin. Cũng may là bà con ta không ai ăn hai loại củ này.
Ngộ độc do canxi oxalat
![]() |
| Ráy Alocasia macrorrhiza. |
Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm của Alocasin: Alocasin, một protein phức tạp trích được từ rễ một số cây Alocasia như củ Ráy, củ Môn bạc hà. Alocasin có một số hoạt tính chống nấm gây bệnh tương tự như miraculin ly trích từ rễ đậu Hà lan (Pisum sativum). Alocasin có hoạt tính chống Botrytis cinerea, làm giảm hoạt tính của men HIV -1 reverse transcriptase và có một hoạt tính tạo ngưng tụ hồng cầu yếu (ở nồng độ 1 mg/ml) ( Protein Expr & Purification,số 28 - 2003).
Môn bạc hà trong dược học cổ truyền Trung Hoa
![]() |
| Tránh nhầm cây Môn bạc hà với cây Ráy lá lọng (Alocasia indica) này để tránh ngộ độc (cuống lá gắn giữa lá như Bạc hà). |
Rễ phơi khô của Môn bạc hà ( Alocasia odora), được gọi là Quảng lang tử (Kuang - lang - tu) (1) thường được dùng tại Đài Loan và vùng Quảng Đông.
Vị thuốc được cho là có vị đắng, cay, tính bình, có độc, tác dụng vào các kinh mạch thuộc phế và tâm. Tác dụng trừ đàm, phá ứ, diệt ký sinh trùng trong ruột, trị đau. Dùng trong các trường hợp bị ứ đàm và thủy dịch, bụng u nổi cục, ho kèm theo khó thở, tức và sưng ngực; trị ghẻ…
Sách thuốc cổ Hoàng Hán Y họccó ghi: “Lang độc phá được tích tụ, chữa được bệnh trong bụng có báng tích, chữa được chứng ghẻ lở lâu năm, mụn ghẻ có vẩy, chảy ra nước vàng… Dùng rẽ cây Lang độc, thu hoạch trong khoảng tháng 2 đến tháng 8, phơi khô trong bóng mát, để càng lâu năm càng tốt, tán ra thành bột khi dùng trị ghẻ”.
Vài phương thức sử dụng
Theo kinh nghiệm dân gian ở nước ta: thân rễ Môn bạc hà dùng làm thuốc. Thân rễ có thể thu hoạch quanh năm, cạo bỏ lớp vỏ thô bên ngoài. Có thể dùng tươi hay xắt lát mỏng, phơi khô. Vị thuốc được xem là có vị nhạt, tính hàn có các tác dụng giải nhiệt, trừ độc, khu phong. Dùng trị cảm cúm, sưng khớp xương do phong thấp, vết thương do côn trùng độc cắn.
Dùng mỗi lần 10 - 15 g dược liệu khô hay 60 - 90g thân rễ tươi (không nên dùng quá liều vì có thể gây ngộ độc với các triệu chứng tê lưỡi, sưng lưỡi, ngộ độc thần kinh trung ương). Có thể giã nát thân rễ tươi, xào với giấm để dùng ngoài da (chỉ đắp vào vết thương, tránh vùng da không bệnh).
Củ Môn bạc hà được mài ra dùng cho người bị kinh phong, đờm trào ra miệng.
(1) Rễ phơi khô của Euphoribia pallasi,gọi là Bạch lang tử (Pai - lang - tử).
Rễ phơi khô của Stellera chamaejasmegọi là Lang tử Đông bắc hay Hồng lang tử.











