Mối quan hệ văn hoá Việt - Mỹ
P. S. Duponceau là người Mỹ đầu tiên nghiên cứu văn hoá (ngôn ngữ) Việt Nam một cách tỉ mỉ, rành mạch, nghiêm túc nhất (trừ việc nghiên cứu của các giáo sĩ nhằm mục đích truyền đạo).
Trừ hai cuốn Từ điển của A. De Rhode (1651) và Taberd (1838) được thực hiện bởi các giáo sĩ, tác phẩm của Duponceau được xem là cuốn Từ điển Việt Nam đầu tiên được xuất bản bởi một nhà ngôn ngữ học.
Tác phẩm Luận về bản chất và đặc trưng của hệ chữ viết gốc Hánlà nghiên cứu đầu tiên về mối liên hệ và sự khác biệt giữa chữ Hán và chữ Nôm (ông có sự hợp tác với ông De la Palun để cùng tìm ra mối liên quan và khác biệt này). Tác phẩm được xuất bản bởi Học viện “American Philosphical Society of Philadephia”, là học viện đầu tiên của Mỹ được sáng lập 1743, hiện vẫn tồn tại, do đề nghị của ông Benjamin Franklin, và P. S. Duponceau là viện trưởng đời thứ 7 từ 1828 cho đến khi ông mất 1844.
Tác phẩm chỉ hiện diện trong một vài thư mục, chưa được trình bày với công chúng gần 170 năm qua, kể từ khi nó được Viện Triết học Hoa Kỳ (APS) xuất bản năm 1838.
Duponceau đã đề cập riêng biệt tới ngôn ngữ xứ Đàng Trong (Việt Nam), là một trong 5 nước (Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, Lưu Cầu, Cao Ly) có cùng hệ chữ gốc Hán. Ông đã cho in ra toàn bộ tập từ điển viết tay (gồm trên 3.000 từ Việt - Lan tinh và 333 chữ Hán - Nôm) do giáo sĩ Joseph Morone tặng trung uý Hải quân Mỹ John White ở Sài Gòn, trước khi ông này rời Việt Nam trở về Mỹ năm 1820.
Hoa Kỳ là nước mới giành được độc lập không lâu, đang phát triển đất đai về hướng tây (go west), nội bộ chưa ổn định, ông Duponceau đã có tầm nhìn qua Thái Bình Dương và thiết lập sự hiểu biết chiến lược của Mỹ (là tầm nhìn của chủ thuyết Monroe ). Ông viết: “Hoa Kỳ sẽ có vinh dự là nước đầu tiên xuất bản các tư liệu nguyên bản thuộc về ngôn ngữ xứ Đàng Trong, và giới thiệu tiếng nói kỳ thú này với văn đàn thế giới” (The United States will have the honor of being the first to publish authentic documents respecting the language of Cochinchina, and introduce that curious idiom to the literary world).
Với chức vụ Viện trưởng APS, ông đã nghiên cứu và phát triển rất nhiều đề tài về ngôn ngữ học cho tới ngày ông mất, 1 - 4 - 1844.
Tóm tắt quá trình hình thành APS(Học viện Triết học Hoa Kỳ tại Philadelphia )
APS là một tổ chức học thuật nổi tiếng thế giới nhằm phát huy hiểu biết về khoa học và nhân văn, thông qua các nghiên cứu sâu rộng, hội thảo chuyên đề, xuất bản, tài liệu thư viện và phát triển cộng đồng. APS được xem là học viện đầu tiên của Hoa Kỳ, đã giữ một vai trò quan trọng cho nền văn hoá và tri thức của Hoa Kỳ trong hơn 250 năm qua. Năm 1769, Viện trưởng đầu tiên là Benjamin Franklin (1769 – 1790). Peter Stephen Duponeau là Viện trưởng thứ bảy (1828 - 1844).
APS gồm có các viện sĩ là bác sĩ, luật sư, giáo sư, thương gia, học giả. Các viện sĩ danh tiếng như George Washington, John Adams, Thomas Jefferson (Viện trưởng thứ ba: 1797 - 1815), Alexder Hamilton, Thomas Paine, Benjamin Rush, James Madison, Laggayette, Von Teuben, APS được xem là khuôn mẫu cho các học viện khác của Mỹ đã thành lập các chuyên khoa canh nông, hoá học, lịch sử. Từ thế kỷ XIX, APS đã quan tâm đặc biệt đến ngành ngôn ngữ, nhân chủng, địa chất, cổ sinh vật học, thiên văn và khí tượng. APS có các thành viên là những nhà bác học nổi tiếng như: John K. Audubon, Robert Fulton, Charles Darwin, Thomas Edison. Alexander von Humboldt, Louis Pasteur, Albert Einstein… năm 1789, hai nhà bác học nữ lần đầu tiên được bầu làm viện sĩ của viện là công cháu Nga Dashkova (Chủ tịch Hàn lâm viện Hoàng gia St. Petersburg ), Marie Curie… Hiện nay APS đang có hơn 700 thành viên trên toàn thế giới, khoảng 85% thường trú tại Hoa Kỳ, trên 200 thành viên của viện đã đoạt giải Nobel.
APS đã uỷ thác cho Uỷ ban Lịch sử và Văn học xuất bản tác phẩm Luận về bản chất và tính cách của phương pháp Hán tựcủa Peter Stephen Duponceau, do nhà in M’Carty and Davis, số 171 Market Street, Philadelphia, in năm 1838.
Trong tác phẩn này Duponeau cho in kèm 2 bản tập phụ lục:
1. Bảng Từ vựng Đàng Trong Nôm - Pháp:gồm 1 tập 333 từ của Đàng Trong có ghi chữ Nôm, dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh và dẫn giải các chữ Nôm trùng với chữ Hán của Lãnh sự Pháp De la Palun, bằng tiếng Anh.
2. Bảng Tự vị Đàng Trong - Latinhgồm 1 tập hơn 3000 từ Đàng Trong viết bằng chữ Việt Latinh không đánh dấu, kèm theo các từ, thành ngữ, tục ngữ Đàng Trong, dịch ra tiếng Latinh.
Duponceau viết: Người Đàng Trong phân biệt chữ Nho và chữ Nôm. Chữ Nôm là chữ của họ, chữ Nho là chữ của giới trí thức, họ gọi cách đọc ấy là Hán Việt. Nôm cũng có ý là nôm na, dân dã. Sở dĩ nhiều nước vùng Đông Á dùng chữ Hán gần giống nhau bởi sách vở, giáo dục và quan hệ sứ thần…
Duponceau cho rằng: Châu Âu không có quyền nào viết về tiếng Đàng Trong. Quyển Tự vị Việt - Bồ - Lacủa linh mục De Rhodesđược ghi lại là tiếng Đàng Ngoài. Tuy nhiên, tiếng Đàng Trong và Đàng Ngoài không khác nhau mấy.
Quan điểm thống trị châu Âu thời ấy tự nhiên dẫn tới quan điểm chữ Hán là ngôn ngữ viết phổ quát, chở ý thẳng vào trí óc con người, ai trên thế giới cũng “hiểu” giống nhau, như hệ thống số các các dấu hiệu đại số học. Dupenceau cho rằng chữ Hán mỗi chữ không biểu thị một ý mà biểu thị một từ, không phải chữ “biểu ý” mà là chữ “biểu tư”.
Về thanh điệu tiêng Việt, giáo sĩ Morrone đã cố gắng ghi lại âm thanh tiếng Đàng Trong trên khung nhạc châu Âu. Đây có thể coi như bản tân nhạc có lời Việt đầu tiên, 1820.
Những tiền đề của Duponceau về chữ Hán vẫn còn giá trị đến ngày nay: bản chất của chữ Hán đại thể ghi tiếng nói và đặc trưng là ghi âm tiết.
Nhờ các tư liệu lịch sử quý giá của ngôn ngữ và chữ viết Đàng Trong làm cơ sở, ông đã chỉ đúng quan hệ của các nước Trung Hoa, Cao Ly, Đàng Trong, Nhật Bản và Lưu Cầu là những xứ dùng chữ Hán. Tuy không chuyên về Hán học hay tiếng Đàng Trong, nhưng cuốn Luận về bản chất…đã có những đóng góp quan trọng trong cách nhìn bản chất, đặc trưng của chữ viết nói chung, chữ Hán nói riêng, và vai trò của nó đối với ngôn ngữ một cách nguyên tắc, thấu đáo. Qua nghiên cứu này, chúng ta lại có thêm hai tư liệu quý giá về tiếng Đàng Trong thế kỷ XIX.
Nghiên cứu của Deponceau và Học viện APS cho thấy sự quan tâm đối với Đông Á của Mỹ, của các vị Tổng thống Mỹ, trong những ngày đầu lập quốc. Qua tư liệu về tiếng Đàng Trong, qua nghiên cứu về tiếng các sắc dân bản xứ châu Mỹ, Duponceau cũng cho thấy tầm nhìn ngôn ngữ học của Mỹ đã bắt đầu hình thành và lớn mạnh.
Sẽ còn nhiều tư liệu lịch sử văn hoá được trao đổi, bàn bạc trong quan hệ văn hóa Việt Mỹ, khi mà mong muốn của Peter Stephen Duponceau vẫn còn đấy: “Hoa Kỳ sẽ có vinh dự là nước đầu tiên xuất bản các tư liệu nguyên gốc, liên quan tới ngôn ngữ xứ Đàng Trong và giới thiệu tiếng nói kỳ thú này với văn đàn thế giới”.








