Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 16/12/2008 23:02 (GMT+7)

Mổ lấy thai theo dòng thời gian

Năm 690 trước công nguyên, Hoàng đế Numa Pompilus đã đề ra đạo luật về phẫu thuật lấy thai trong trường hợp thai phụ vừa chết, gọi là luật Lex Regis. Bào thai lấy ra nếu bị chết phải được chôn cất riêng biệt bên cạnh mộ người mẹ.

Năm 100 năm trước công nguyên, trước một trường hợp sinh khó, các thầy thuốc La mã quyết định mổ lấy thai. Vì đứa bé này vô cùng quan trọng: Julius Coesar (101 - 44 trước công nguyên), sau này là Hoàng đế La Mã. Vì vậy thủ thuật này gọi là Césarienne.

Sau này, khi lên ngôi Hoàng đế, Julius Coesar đã lấy luật Pex Regis của Numa Pompilus đổi thành luật Lex Cesare qui định việc mổ lấy thai. Julius Coesar cho thành lập các trung tâm Caesones. Các trẻ sinh ra theo thủ thuật mổ lấy thai đều được đưa về các trung tâm này nuôi dưỡng.

Năm 900, các nhà y học đặt ra vấn đề tại sao phải đợi thai phụ chết rồi mới mổ lấy thai? Sao không mổ lấy thai khi thai phụ còn sống để cứu chữa cả mẹ lẫn con trong trường hợp không sinh đẻ tự nhiên? Các nhà khoa học tự trả lời, là vì vấn đề an toàn cho người mẹ, điều mà không cần đặt ra khi thai phụ đã chết. Và người ta bắt đầu âm thầm thực hiện việc mổ lấy thai ở thai phụ còn sống.

Trong thời gian đó, việc mổ lấy thai ở thai phụ còn sống đã phổ biển ở Trung Đông.

Năm 1000, nhà thờ Thiên Chúa cho phép phẫu thuật lấy thai trên thai phụ vừa chết, hy vọng sẽ cứu vớt được sinh linh bé bỏng còn đang sống trong bụng mẹ.

Năm 1500, ở châu Âu, việc mổ lấy thai ở thai phụ còn sống đầu tiên được ghi nhận ở Thụy Sĩ. Jacob Hujer làm nghề thiến lợn, khi thấy vợ không thể sinh con theo cách tự nhiên, ông đã bạo tay mổ bụng vợ để lấy thai.

Từ năm 1600, đồng loạt các nước châu Âu đưa phẫu thuật lấy thai khi thai phụ vừa chết thành đạo luật. Luật qui định buộc thầy thuốc phải phẫu thuật lấy thai, nếu không thực hiện sẽ bị kết tội.

Năm 1747, tại Sicilly, có một phụ nữ mang thai sắp sinh, nhưng bà ta chết trước khi đứa trẻ ra đời. Thầy thuốc phụ trách ngần ngại không dám mổ bụng thai phụ để lấy thai. Vì vậy ông đã bị nhà vua kết tội.

Cho đến năm 1800, các nước đều có luật cho phép giải phẫu các thai phụ vừa chết với hy vọng cứu được thai nhi. Tuy nhiên, phần lớn các ca phẫu thuật này đều không cứu được thai nhi. Vì thế đã dấy lên khuynh hướng không nên giải phẫu các thai phụ bị chết. Cuộc tranh luận không gay gắt, sôi nổi nhưng âm ỉ kéo dài.

Trước những năm 1900, trong các trường hợp khó sinh cần phải phẫu thuật để lấy thai, đo trình độ kỹ thuật chưa tiến bộ, thì cơ hội sống sót của thai phụ và thai nhi rất thấp, 80% các ca phẫu thuật lấy thai đều gây tử vong hoặc mẹ hoặc con hoặc cả con lẫn mẹ.

Sau năm 1900, với đầy đủ thuốc gây tê, gây mê, việc mổ lấy thai tiến bộ hơn. Kết quả sống tăng lên rất nhiều, tạo phấn khởi đến độ người ta có thời gian để quan tâm đến một khía cạnh thẩm mỹ. BS Pfannenstiel đã nghiên cứu và tìm ra cách mổ với kỹ thuật thích hợp để sau khi vết mổ lành, thai phụ vẫn có thể mặc áo tắm hai mảnh mà không mặc cảm. Kỹ thuật mổ thẩm mỹ được tôn vinh và đón nhận nồng nhiệt, nên đường mổ theo kỹ thuật này được gọi là đường mổ Pfannenstiel.

Đạt thẩm mỹ và tính an tòan cao, dư luận và các nhà đạo đức cổ vũ cho việc mổ lấy thai dù thai phụ còn sống hay đã chết. Luật pháp đã chính thức công nhận: “Phẫu thuật lấy thai sau khi thai phụ đã chết, không cần có sự đồng ý của gia đình. Và có thể chỉ định ngay ở thời điểm thai nhi còn sống hoặc không hy vọng sống sót”.

Đến năm 2000, mổ lấy thai cho thai phụ còn sống đã trở thành loại phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao nhất trên toàn thế giới. Đồng thời, tỷ lệ bệnh xuất và tử vong cũng gia tăng. Mổ lấy thai tăng và phổ biến do yếu tố xã hội và kỹ thuật. Về mặt xã hội, số người sinh đẻ giảm, tuổi sinh đẻ cao, các nhà hộ sản ngán ngại vấn đề pháp lý khi thai nhi bị nghẹt thở lúc sinh đẻ. Cũng nên kể đến vấn đề mê tín dị đoan, sản phụ muốn sinh con đúng ngày lành tháng tốt.

Tháng 4 - 2005, nhân tổng kết thành quả quan trọng trong một phần tư thế kỷ 1980 - 2005, Đài truyền hình CNN đã xếp sinh mổ vào hạng thứ 20 trong 25 cột mốc y học quan trọng.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị
Sáng 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu quan trọng chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
GS.VS Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Viện 69
Nhân kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026) và ngày giỗ lần thứ 57 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 2/9, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch VUSTA, Chủ tịch Hội đồng Khoa học cấp Nhà nước về bảo quản, giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn công tác đã dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.