Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 18/12/2013 22:26 (GMT+7)

Mô hình cho nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ trước tình hình biến đổi khí hậu hiện nay ở Thanh hóa

Quỹ môi trường toàn cầu – Chương trình tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam (UNDP-GEF/SGP) chấp nhận ý tưởng của Hội nghề cá Thanh Hóa và đã tài trợ một phần kinh phí cho thực hiện dự án: “ Xây dựng mô hình NTTS thích ứng với biến đổi khí hậu, hướng tới sự phát triển bền vững ngành thủy sản xã Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa”. Đây là dự án được triển khai thực hiện bởi Hội nghề cá Thanh Hóa, chính quyền và các hộ nông dân NTTS xã Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa.

Việc chọn xã Hoằng Châu là vùng đặc trưng NTTS nước lợ chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu bởi những đặc điểm tình hình sau: Xã Hoằng Châu nằm phía ĐÔng Nam huyện Hoằng Hóa, có tổng diện tích đất tự nhiên 1.080 ha, trong đó diện tích mặt nước NTTS401,5 ha chiếm 37% tổng diện tích. Đây là vùng nuôi vừa chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều sông Mã, vừa chịu ảnh hưởng của thủy triều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình từ Bắc Bộ đổ vào; có khí hậu thời tiết nắng nóng, gió lào vào mùa hè,; gió mùa Đông – Bắc khô lạnh suốt mùa đông… Cồn Trường là địa điểm triển khai dự án, có 300ha diện tích NTTS, với 137 hộ dân, cồn nổi giữa hạ lưu sông Mã, nó có ý nghĩa chắn sóng gió cho các vùng dân cư phía trong… Về mặt sinh học cồn Trường còn có đầy đủ các đặc điểm của vùng cửa sông ven biển với sự đa dạng sinh học cả trên cạn và dưới nước. Thời kỳ vào những năm 1970-1980 diện tích rừng ngập mặn tự nhiên rất lớn khoảng 200 ha với nhiều loại hải sản quý như: tôm He, tôm Rảo, cua càng xanh, ngao, hàu, cá Đối, các vược… Cồn trường nằm ở cửa sông lớn nên chịu ảnh hưởng tác động từ ngoài biển vào (sóng gió, xâm nhập măn…) và từ trong đất liền ra( ô nhiễm do các nhà máy ở thượng nguồn, nước thải sinh hoạt của con người…) vì vậy nguồn lợi thủy sản và môi trường suy giảm rất nhiều so với trước đây, việc canh tác cũng như thu nhập của đại bộ phận cư dân trở nên khó khăn và thiếu ổn định.

Dự án được triển khai nuôi các mô hình vào vụ Xuân- Hè 2011, với mục tiêu cần đạt:

- Tìm được các mô hình với công nghệ nuôi thích hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, thích ứng được với diễn biến bất lợi của thời tiết, khí hậu và xâm nhập mặn.

- Trồng, quản lý và khai thác hiệu quả rừng ngập mặn

- Tăng cường sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng để cùng nhau đối phó với các thay đổi tiêu cực của thiên nhiên.

- Trang bị kiến thức và nâng cao năng lực cho cộng đồng thông qua tuyên truyền, tập huấn, hội thảo, thao diễn, tham quan, học hỏi kinh nghiệm… có sự hướng dẫn của đội ngũ chuyên gia lành nghề.

- Bảo vệ tái tạo và khai thác hợp lý nguồn lợi tự nhiên.

Nội dung chính của dụ án là xây dựng 3 mô hình NTTS trong điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, có một số đặc điểm khác biệt so với kỹ thuật nuôi trồng của nhân dân lâu nay, đó là:

MÔ hình 1: Nuôi thủy sản lách vụ: là nuôi sớm (hoặc muộn) hơn thời vụ chính khoảng một thời gian nhất định. Ở đay chọn nuôi lách vụ sớm hơn 1 tháng so với vụ nuôi thông thường, mục đích để tránh được lụt Tiểu mặn đem theo nước ngọt bị ô nhiễm xâm nhập môi trường nuôi thủy sản, đặc biệt lúc này vụ nuôi đã đến kỳ thu hoạch (tôm, cua… thường bị chết do mua lụt đột ngột đổ về), tổn thất đó cứ lặp đi lặp lại hàng năm. Bất lợi đối với việc nuôi sớm là con giống ban đầu sẽ gặp thời tiết rét đậm, rét hại. Giải pháp khắc phục ở đây các chuyên gia tính toán là khi giống nhỏ (tôm sú P15, cua bột – kích thước 1-1,2 cm) được ương lại trong trại giống vì cơ sở trại giống có điều kiện tăng nhiệt giữ ấm, sau 15-20 ngày giống lớn lên (đạt kích thước 2-3 cm) khả năng chịu rét tốt hơn, đồng thời nhiệt độ ngoài trời cũng đã ấm dần, lúc này con giống được thả ra đồng nuôi chắc chắn sẽ ít tổn thất hơn. Thực tế, người nuôi cũng đã nuôi sớm nhiều năm, nhưng giống quá nhỏ đem thả trực tiếp ra đồng mà không có biện pháp ương giống lớn lên thì giống dễ chết rét, vì vậy người dân phải mua giống thả lại, gây tổn thất lớn. Mặt khác, nếu việc nuôi sớm thành công, sản phẩm cung cấp sớm cho thị trường du lịch đầu hè giá bán sẽ cao hơn.

Mô hình 2: Nuôi thủy sản xen ghép: là nuôi nhiều đối tượng trên một diện tích, sẽ tận dụng triệt để nguồn thức ăn trong chăn nuôi mang ý nghĩa như nuôi sinh thái, thân thiện với môi trường. Trong nuôi xen ghép phải xác định một vài đối tượng nuôi chính sau đó chọn một số đối tượng thích thả xen vào trách địch hải là “sát thủ” của nhau… Mô hình ở đây chọn các đối tượng chính là tôm sú, cá đối, rau câu… trước đây kỹ thuật nuôi cho rằng các loại giáp xác (cua, tôm…) không được nuôi lẫn nhau, càng không được thả chung với các loại cá, vì khi lột xác tô, cua sẽ bị vật cùng nuôi khác ăn thịt hết. Thực tế hoàn toàn không như vậy, với tập tính sinh sống và bản năng phòng vệ tự nhiên, các đối tượng trên vẫn tồn tại cùng nhau, tất nhiên có hao hụt, nhưng vù trừ đến cuối cùng sản lượng chung vẫn cho là thu hoạch tốt. Lưu ý một số loài cá dữ không được thả xen ghép như cá vược, cá sủ, cá măng…

Mô hình 3: Nuôi thủy sản bản địa: là nuôi các đối tượng đã quen với môi trường. thời tiết khí hậu địa phương, cũng là để lưu giữ, bảo tồn một số giống loài thủy sản truyền thống, nguồn giống chủ yếu lấy tự nhiên, có thả thêm một ít giống nhân tạo theo hình thức quảng canh.

Triển khai thực hiện nuôi các mô hình trong thời gian 4-5 thang (từ tập huấn, cải tạo ao đầm, ương giống trong trại đến nuôi thả và thu hoạch ) kết quả đạt được như sau:

-       Mô hình 1: Đối tượng nuôi chính là tôm sú, nuôi phụ là cua. Năng suất bình quân: tôm sú 0,4 tạ/ha, cua 0,2 tạ/ha; rau câu 2,0 tạ/ha. Doanh thu đạt 125 triệu đồng, lợi nhuận 40 triệu đồng, thời gian nuôi 3 tháng.

-       Mô hình 2: Đối tượng nuôi chính là tôm sú và cua, nuôi phụ là cá đối, tôm rảo tự nhiên. Năng suất 2,55 tạ/ha, doanh thu 100 triệu đồng, lợi nhuận 30 triệu, thời gian nuôi 3,5 tháng.

-       Mô hình 3: đối tượng nuôi chính là cua, nuôi phụ là tôm sú, cá đối, tôm rảo tự nhiên. Năng suất 2,5 tạ/ha, doanh thu 90 triệu đồng, lợi nhuận 20 triệu đồng, thời gian nuôi 4 tháng.

Nguồn giống tôm sú, cua biển nuôi tại các mô hình đều do Trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống hải sản Thanh Hóa cho sinh sản nhân tạo tại trại giống Hoằng Thanh. Hạch toán sản xuất các mô hình lần này đều có lãi khá (25 – 30 % doanh thu) là một tín hiệu đáng mừng. Trong khi đó đối chứng với nhân dân nuôi thủy sản quanh vùng (Hoằng Phụ, Hoằng Phong, Hoằng Lưu, và ngay cả Hoằng Châu), vụ 2011 này, phần đông vẫn giữ thói quen canh tác cũ, tình trạng thủy sản nuôi bị chết hàng loạt, rất nhiều hộ không có thu hoạch. Lý do chính vẫn là lũ Tiểu mãn về sớm làm cho tôm, cua sắp đến ngày thu hoạch bị sốc môi trường và chết; ngoài ra còn do chất lượng con giống xấu, mua bán trôi nổi, không được quản lý chặt chẽ…

Sau 1 vụ nuôi thủy sản theo mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cồn Trường, xã Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa, có thể rút ra một số kết luận sau:

Thứ nhất: tìm mọi điều kiện và giải pháp để nuôi sớm hơn lịch thời vụ ngành thủy sản phổ biến, nhân dân đang áp dụng. cụ thể lịch thời vụ lâu nay chọn thời gian thả giống tôm sú là trước và sau tiết Thanh minh 15 ngày, từ nay đề nghị thả giống sớm hơn lịch thời vụ đó 1 tháng (Mô hình nuôi năm nay thả giống lớn hơn 2-3 cm ngày 6/2 âm lịch, Thanh Minh là 28/2 âm lịch, nếu tính từ ngày thả giống P15 thì mô hình thả sớm hơn lịch thời vụ 40 ngày)

Thứ hai: Thời tiết còn rét không được thả giống nhỏ, cần phải có biện pháp ương giống lớn lên rồi mới thả ra đồng.

Thứ ba: Giống phải được kiểm soát chất lượng theo đúng quy định của Pháp lệnh thú y. Nên chọn mua giống tại các cơ sở sản xuất có thương hiệu, có điều kiện ương thành giống lớn khi thời tiết còn rét đệm, rét hại và cơ sở đó càng gần khu vực nuôi thả càng tốt (trong huyện, trong tỉnh… là tốt nhất, sau đó mới đến các địa phương lân cận).

Thứ tư: người nuôi phải chấp hành nuôi theo quy trình kỹ thuật được tập huấn, hướng dẫn… quá trình nuôi phải chú ý quản lý môi trường tốt, thường xuyên theo dõi thời tiết, khí hậu tại địa phương, đặc biệt lúc thả giống đầu vụ và mưa, lũ Tiểu mãn cuối vụ nuôi.

Về cơ sở hạ tầng đồng nuôi: bờ, cống cấp thoát nước phải chắc chắn, không thẩm thấu, rò rỉ…đảm bảo chủ động ứng phó với bất lợi do thời tiết xấu gây ra. Ngoài ra có thể tăng cường các biện pháp giảm thiểu nóng, lạnh cho môi trường, tạo điều kiện hoạt động sinh thái cho thủy sản nuôi như tạo một phần diện tích sâu hơn trong ao nuôi, trồng cỏ xung quanh bờ hoặc cồn cạn trong ao…

Qua vụ nuôi năm 2011, với điều kiện thời tiết vẫn khắc nghiệt không kém mọi năm (tháng 1 có thời điểm nhiệt độ xuống đến 8,8 0C; tháng 2 nhiệt độ trung bình 12,4 0C; tháng 3 có lục nhiệt độ thấp 9,4 0C), việc xây dựng các mô hình NTTS và với kết quả đạt được khá tốt có thể khẳng định quy trình công nghệ nuôi thủy sản nước lợ bắt đầu đã thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương, đặc biệt mô hình nuôi lách vụ. Hội nghề cá Thanh Hóa đề nghị Quỹ môi trường toàn cầu cho thực thi các mô hình thêm một năm nữa để có đủ cơ sở khoa học, đúc kết được quy trình nuôi chuẩn, mang tính thực tiễn cao, sau đó sẽ phổ biến nhân rộng cho toàn tỉnh.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.