Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 18/08/2008 15:24 (GMT+7)

Máy bóc vỏ quả vải: Giải pháp đầu ra cho nông sản

Hiện nay đối với cây vải, một số nhà máy đã tìm cách chế biến vải thành các sản phẩm có thể xuất khẩu như: vải Puree, cô đặc, vải lạnh IQF, vải đóng trong hộp sắt…

Đối với Công ty TPXK Đồng Giao, việc đa dạng hóa các sản phẩm trên dây chuyền nước dứa cô đặc đã được áp dụng. Một trong các sản phẩm đó là nước vải cô đặc và nước vải Puree được đưa ra thị trường từ năm 2005.

Dây chuyền nước dứa cô đặc có thể sản xuất từ 100 đến 150 tấn nguyên liệu vải quả tươi trong một ngày. Một vụ vải có thể sản xuất được 40 ngày. Như vậy cả vụ nhà máy cô đặc có thể sản xuất từ 4.000 đến 6.000 tấn vải quả tươi.

Một vấn đề là bóc làm sao cho được số nguyên liệu phục vụ cho chế biến, vì mỗi lao động có thể bóc bình quân: 60 kg quả/8h.

Mỗi ngày cần số lao động từ 1600 đến 2.500 lao động phục vụ cho dây chuyền cô đặc. Đây là một vấn đề khó đối với những cơ sở chế biến như Đồng Giao về mặt bằng, về lao động, cơ sở vật chất phục vụ cho việc chế biến. Thực tế mỗi ngày công ty chỉ có thể huy động được 200 lao động trực tiếp làm tại nhà máy. Như vậy sẽ không đáp ứng nhu cầu sản xuất. Từ trăn trở đó, Nguyễn Thanh Sơn cùng cộng sự đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy bóc vỏ quả vải dựa theo nguyên lý bóc tay thông thường. Qua 2 năm nghiên cứu đến năm 2007 chiếc máy bóc vỏ quả vải do các anh thiết kế đã chính thức ra đời.

Máy bóc vỏ vải có cấu trúc như sau:

- Băng tải con lăn để chuyển quả, được chuyển động nhờ Motor, xích nhông.

- Phễu nạp liệu dùng để đổ quả vải, có 11 cửa để dẫn nguyên liệu vào 11 dao cắt.

- Máng dẫn quả từ phễu nạp liệu đến dao cắt vỏ.

- Dao cắt vỏ hình đĩa, bên ngoài mép dao có dạng răng cưa, dao quay được nhờ bộ truyền động gồm: các puli, dây curoa, mô tơ.

- Bộ phận tách vỏ ra khỏi cùi gồm có bánh răng có số răng phù hợp với tốc độ của băng tải quả, bánh răng sẽ đẩy quả qua vấu móc vỏ được lắp trên máng dẫn, giúp cho vỏ được tách ra khỏi cùi.

Quả vải được đổ vào máng tiếp liệu, quả vải sẽ được chuyển vào máng dẫn nhờ băng tải con lăn, từng quả nối nhau. Băng tải được thiết kế để quả vải trước và trong khi tiếp xúc với dao cắt sẽ tự quay quanh mình nó. Khi quả vải ra khỏi vị trí dao cắt vỏ thì nó đã bị cắt hết vòng tròn chu vi của quả.

Dao cắt có dạng hình đĩa tròn, mép ngoài của dao có dạng hình răng cưa, sắc và dao cắt quay với tốc độ đủ lớn giúp cho việc cắt vỏ bén, gọn tránh làm rách vỏ.

Sau đó, quả vải sẽ sang bộ phận tách vỏ. Quả vải lúc này đã được cắt khoanh gần như hết chu vi quả vải, do đó khi răng của bánh răng tách vỏ đẩy quả qua các vấu giữ vỏ lại, cùi vải sẽ tách ra khỏi vỏ.

Sau khi quả vải được tách ra khỏi vỏ sẽ rơi xuống một băng tải chọn bằng cao su để nhặt vỏ ra.

Máy bóc vỏ của Đài Loan do công ty nhập về hoạt động theo nguyên lý:

- Vận chuyển tự lăn theo độ nghiêng của quả lô.

- Vỏ do gai cào rách vỏ vải, nên cùi bị rách mướp, dịch vải bị chảy ra nhiều, chất chát (chất ta nanh) ngấm vào cùi vải nhiều.

- Tách vỏ trong quá trình vận chuyển từ khi quả vải vào đến khi ra khỏi qua lô. Tỷ lệ tách vỏ thấp, tỷ lệ rách cùi cao.

- Tỷ lệ hao hụt về nguyên liệu cao; chúng tôi đã tiến hành kiểm tra lượng vỏ được thải ra Silo: 05 kg vỏ thải lên silo thì thịt quả dính theo vỏ bỏ đi là 1.4 kg chiếm tới 28%. Nếu tính theo nguyên liệu đầu vào thì tỷ lệ thịt quả theo vỏ chiếm khoảng 13%.

Khác với máy của Đài Loan, máy bóc vỏ quả vải của anh Sơn:

- Vận chuyển bằng băng tải con lăn, nên thời gian từ khi quả vào đến khi ra khỏi máy bóc là xác định.

- Cắt vỏ bằng dao cắt, vết dao cắt gọn không rách, thời gian cắt ngắn, 100% quả bị cắt khi qua dao cắt, không bị ngấm chất ta nanh vào cùi vải.

- Tách vỏ bắt buộc do bánh răng đẩy, thời gian tách ngắn, tỷ lệ tách vỏ ra khỏi cùi trên 95%.

Sản phẩm của máy anh Sơn đã tránh được các khuyết điểm của máy Đài Loan nói trên:

+ Tựa vải không bị cà rách tướp ra mà còn gần như nguyên dạng. Tỷ lệ hao phí thịt quả theo vỏ đi ra ngoài gần như không đáng kể.

+ Lượng nước bị chiết ra rất ít do quá trình tách vỏ diễn ra rất ngắn, do đó chất ta nanh ngấm vào tựa vải rất ít so với các máy trên.

Kết quả hoạt động thực tế của máy:

- Chất lượng phần tựa vải sau khi bóc ít bị biến dạng, vẫn giữ được hình dạng tròn của quả vải.

- Tỷ lệ bóc vỏ đạt 90%

- Nước vải bị trích ép ra trong quá trình bóc khoảng 7%, lượng nước được hứng lại nhờ có máng hứng ở dưới đáy băng tải của máy bóc vải.

- Lượng ta nanh ngấm vào sản phẩm ít hơn so với các loại máy khác do thời gian tiếp xúc giữa vỏ và thịt quả ngắn hơn.

- Tỷ lệ lãng phí do cùi vải theo vỏ không đáng kể (< 2%).

- Ưu điểm của máy:

+ Tỷ lệ thu hồi sản phẩm cao.

+ Máy tự chế tạo nên sửa chữa chủ động không bị phụ thuộc vật tư thay thế nước ngoài.

+ Chi tiết của máy ít bị mài mòn, thay thế sửa chữa ít tốn kém.

+ Giá thành máy rẻ.

Công suất một máy khoảng 1.500 kg/h, nếu dây chuyền cô đặc cần cô đặc nước vải ở 30 độ Bx thì cần 4 đến 5 máy để bóc từ 6 đến 8 tấn/h. Mỗi ngày có thể sản xuất khoảng 20 tấn nguyên liệu, một vụ có thể sản xuất được từ 4.000 tấn đến 6.000 tấn vải nguyên liệu. Sản lượng có thể nâng lên gấp 3 lần so với khi chưa có máy, như vậy giải quyết đỡ được nỗi lo cho bà con nông dân.

- Khi chưa có máy bóc vỏ, số lượng lao động thủ công cần nhiều khiến cho nhà máy gặp khó khăn trong thuê nhân công và trong việc bố trí mặt bằng chế biến. Máy thay thế được lao động, giải quyết được khó khăn của nhà máy trong lúc thời vụ.

- Tạo ra được nhiều sản phẩm, nâng giá trị kinh tế, tạo thị trường ổn định của cây vải.

Khả năng áp dụng đối với máy bóc vỏ vải

Hiện nay, cây vải là cây có giá trị kinh tế cao, sản phẩm xuất khẩu đối với cây vải bao gồm: vải sấy khô, vải quả tươi đông lạnh, vải bóc tựa làm đông lạnh nhanh, vải đóng trong hộp, vải puree, vải cô đặc.

Cây vải được phát triển rất lớn ở Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang và vùng đối núi tỉnh Ninh Bình… Một trong những khó khăn nhất của bà con nông dân là việc tiêu thụ vải quả vì vải quả chỉ thu hoạch trong một thời gian ngắn khoảng 40 ngày.

Một số các nhà máy chế biến thực phẩm đang tập trung nghiên cứu chế biến vải xuất khẩu bằng cách đa dạng hóa sản phẩm trên dây chuyền sẵn có của mình. Để sản xuất được nhiều sản phẩm, tiêu thụ được nhiều nguyên liệu, nhà máy nên tập trung sản xuất nước puree vải và nước vải cô đặc.

Công ty TPXK Đồng Giao đã tiến hành sản xuất nước vải Puree và nước vải cô đặc từ năm 2005. Nhưng với số lượng không lớn, do số lượng cùi bóc không được nhiều, một vụ chỉ sản xuất được 100 tấn sản phẩm các loại.

Chính vì vậy, việc đưa máy móc vào công đoạn bóc vỏ, chà tách hạt là khâu quyết định có thể nâng số lượng sản phẩm lên tới nghìn tấn mỗi vụ.

Do những ưu điểm của máy bóc vỏ quả vải mà triển vọng áp dụng của máy sẽ rất cao. Nhà nước nên có chủ trương đầu tư sản xuất hàng loạt máy để phục vụ cho các cơ sở chế biến vải.

Rõ ràng máy bóc vỏ quả vải do anh Sơn và cộng sự ở Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao chế tạo đã mang lại lợi ích lớn cho công ty và cho xã hội:

Mỗi máy có thể thay thế từ 250 đến 300 người lao động. Để sản xuất từ 4.000 đến 6.000 tấn vải nguyên liệu thì máy có thể thay thế trong một ngày từ 1.000 đến 2.000 lao động; để sản xuất liên tục một khối lượng vải lớn trong vòng một tháng thời vụ thì nhu cầu về lao động là một vấn đề khó có thể đáp ứng được.

Áp dụng sản xuất bằng máy sẽ tiêu thụ được nhiều nguyên liệu vải quả tươi, sản xuất được nhiều sản phẩm cho doanh nghiệp, cho xã hội.

Hiện nay với người nông dân, việc tìm đầu ra cho những sản phẩm nông nghiệp là một vấn đề bức xúc nhất. Máy bóc vỏ quả vải giúp phần giúp nông dân yên tâm sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm và của cải cho xã hội.

Tại Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Ninh Bình lần thứ III (2006 – 2007), giải pháp sáng tạo bóc vỏ quả vải đoạt giải nhất lĩnh vực cơ khí, điện tử, tự động hóa và trong Hội thi Toàn quốc, giải pháp này đã đoạt giải khuyến khích. Đây là nguồn cổ vũ lớn tiếp sức cho sự sáng tạo không ngừng của các tác giả.

Nguồn: Thông tin Khoa học & Kỹ thuật Ninh Bình, số 4, 2008, tr 45

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.