Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 15/07/2009 16:20 (GMT+7)

Mặt trái của “thần dược” từ Bạc

Sự “nguy hiểm” của bạc

Trong lịch sử y học, việc chữa bệnh bằng bạc chưa ghi nhận một vụ tử vong nào nếu bệnh nhân chỉ chữa bằng “thuốc” bạc đơn thuần.

Trầm trọng nhất người ta chỉ nói tới bệnh argyria (ngộ độc muối bạc). Đó là bệnh sử dụng quá liều lượng trong thời gian dài các hợp chất của bạc khiến chúng tích tụ ở da, mắt và các cơ quan nội tạng.

Dưới ánh sáng mặt trời, các hợp chất của bạc bị phân huỷ thành bạc mịn, có màu đen (giống với hiện tượng phân huỷ muối bạc đưa đến ứng dụng trong ngành quay phim chụp ảnh đen trắng) khiến da người bệnh trở nên xanh xám (gọi là hiện tượng cường sắc tố - hyperpigmentation).

Tuy nhiên, cho tới nay số người mắc bệnh argyria chủ yếu nằm trong số những người già điều trị bằng bạc cách nay khoảng 60 năm, trước khi phát minh ra kháng sinh. Song những người này đã dùng muối bạc để trị bệnh, chứ không phải bạc keo hay bạc nano (Khi “phe” phản đối dùng bạc chữa bệnh đưa một người mắc bệnh da xanh lên đoạn clip để tố cáo sự nguy hiểm, “phe” ủng hộ bạc đã phản bác lại rằng bệnh nhân đó đã gần 90, chứng tỏ bệnh da xanh chỉ là hiện tượng mà không ảnh hưởng đến sức khoẻ vì ông đã “sống chung” với bệnh argyria trên 60 năm mà vẫn khoẻ mạnh).

Bạc rất phân tán nhưng trong thiên nhiên nó vẫn có trong các nguồn nước thiên nhiên và cơ thể động thực vật. Mỗi ngày bằng nguồn thức ăn, nước uống, chúng ta thu nhận và thải ra chừng 300 microgam bạc. Như vậy tuy không phải vi chất cần thiết của sự sống, nhưng bạc cũng quá “quen thuộc” với cơ thể.

Ngoài bệnh argyria, có những hiệu ứng phụ khi uống trực tiếp dung dịch bạc như: đau đầu, mệt mỏi, khó tiêu. Người ta còn cho rằng có thể dẫn đến các bệnh về thận và gan. Nếu dùng bạc đồng thời với các chất kháng sinh tổng hợp (CKSTH) khác như quinolon, tetraxyclin, penixilamin thì do tương tác, nó giảm hiệu quả của những CKSTH này.

Để đánh giá sự nguy hiểm của các “thuốc” bạc, không gì hơn là lấy những số liệu so sánh với “đồng đẳng” của chúng là CKSTH.

Trong một bài báo mang tiêu đề gay gắt “Bạc keo, có hại mà không có lợi” (Colloidal Silver: Risk without benefits), tác giả chỉ phê phán những nhà sản xuất bạc keo không đúng chất lượng, mất vệ sinh và lẫn tạp chất, bán giá quá cao và quảng cáo phóng đại không đúng sự thật (nghĩa là về mặt xã hội chứ không phải về mặt khoa học). Bài báo cũng nêu ra 11 trường hợp người vì sử dụng chế phẩm bạc mà bị bệnh argyria, trong đó một người già 71 tuổi bị tử vong do... động kinh.

Thuốc chữa bỏng có thành phần là bạc.
Thuốc chữa bỏng có thành phần là bạc.
Những người ủng hộ bạc trong y học chứng minh (qua phỏng vấn) đó là những người dùngkhông đúng chỉ dẫn. Họ dẫn ra cứ liệu để so sánh: cùng thời gian đó, có 13.000 bệnh nhân điều trị tại các bệnh viện Hoa Kỳ đã chết vì dùng CKSTH trong khi vi trùng đã bị nhờn thuốc (Theo Newsweek, số28/2/1994)

Bao nhiêu bạc thì bắt đầu có hại? 

Chưa có sự trả lời dứt khoát cho câu hỏi này mà chỉ có những thông tin cho phép dự báo (Đây cũng là nhược điểm của y học dân gian như những người ủng hộ việc dùng bạc trong y học thừa nhận).

Những số liệu hiện có (do “y học hiện đại” đưa ra) chỉ đề cập đến muối bạc và bạc proteinat có hàm lượng bạc trong đó cao hơn nhiều so với bạc keo và bạc nano trong dung dịch nên không thể coi là “chuẩn” để đưa ra “độ độc” theo khái niệm của ngành dược. Độ độc ấy chính là độ độc mà nhẹ là bệnh argyria nói trên, nặng hơn là có hại với hệ thần kinh, các cơ quan nội tạng và hệ tim mạch nhưng không xác định được các “ngưỡng” bằng số đo.

Trong một công trình nghiên cứu trên loài vật, liều lượng gây tử vong khi tiêm cho chó “thuốc” bạc dưới dạng proteinat là 500mg đến 1,9 gam. Nếu quy ra dung dịch bạc keo trên người thì tương ứng sẽ là 150 đến 570 lít dung dịch bạc keo 10 ppm (hoặc 75 đến 285 lit bạc keo 20 ppm hoặc 50 đến 190 lit bạc keo 30 ppm) đối với một người đàn ông nặng 70kg. Theo các tác giả Goodman và Gillman, liều gây chết đối với người là 10 gam, là hàm lượng chứa trong 1.000 lít bạc keo 10 ppm. 1.000 lít là một lượng không ai có thể sử dụng nổi.

Trong những thí nghiệm nói trên, các tác giả đã tiêm cho một con chó nặng 23kg với liều 500mg Collargol, chứa 87% bạc và 12 giờ sau, con chó chết. Theo họ, nó vẫn không chết nếu tiêm đến liều lượng 1,3–1,5 gam làm nhiều lần trong thời gian 3 đến 7 ngày. Họ cũng suy ra người sẽ chết sau 2 giờ nếu tiêm vào tĩnh mạch 50mg Collargol.

Trong khi đó Cục Bảo vệ môi trường Mỹ EPA cũng đưa ra giới hạn tối đa của bạc trong nước uống là dưới 0,1 mg/l (tương đương dưới 0,1ppm). Cũng cần nói thêm rằng do cơ địa, có những người dị ứng với một kim loại nào đó và tất nhiên cũng có người dị ứng với bạc.

Nói chung, các số liệu về độ độc gây chết do các cơ quan chức năng Hoa Kỳ đưa ra đều nằm trên rất xa liều lượng khuyến cáo sử dụng của những người chủ trương đưa bạc vào sử dụng trong y học. 

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.