Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/07/2012 21:51 (GMT+7)

Malaysia: Đi lên từ thương mại hóa R&D

Các kế hoạch lần thứ 7 (1995-1999), 8 (2000-2005), 9 (2006-2010) của Malaysia tiếp tục đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong các cơ sở nghiên cứu và các doanh nghiệp ở Malaysia. Kết quả là những nỗ lực cải cách không ngừng đã và đang thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu của Malaysia ngày càng phát triển, đưa Malaysia trở thành quốc gia đạt được thành công trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á.

R&D ở Malaysia


Malaysia là quốc gia có tiềm năng nghiên cứu-phát triển hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á. Theo số liệu thống kê của Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO), trong giai đoạn 2006-2010, Malaysia là nước đứng thứ hai chỉ sau Singapore ở Đông Nam Á về số lượng bằng sáng chế (Bảng 1).

Bảng 1: So sánh số lượng văn bằng sở hữu trí tuệ được cấp trong giai đoạn 2006-2010 của các nước ở Đông Nam Á

Hạng

Nước

Dân số (triệu người)

Số bằng sáng chế 2006-2010

1

Singapore

4,8       

2496

2

Malaysia

27,9

877

3

Thái Lan

68,1

206

4

Philippines

93,6

143

5

Indonesia

232

74


(Dân số: nguồn BBC, số bằng sáng chế: nguồn USPTO)

Số liệu trên cho thấy khả năng nghiên cứu sáng tạo ra các tài sản trí tuệ của Malaysia là rất tốt. Đây chính là tiền đề để hoạt động thương mại hóa dưới hình thức chuyển giao/li-xăng công nghệ hay thành lập các công ty công nghệ mới được phát triển. Tuy nhiên, các loại tài sản trí tuệ như các bằng sáng chế chỉ là những sản phẩm công nghệ ban đầu và những sản phẩm này không chắc chắn có thể đưa ra được thị trường. Trên thực tế hoạt động thương mại hóa của Malaysia vẫn đang gặp nhiều trở ngại và vẫn đang trong quá trình tìm kiếm các giải pháp tối ưu để phát triển.

Những rào cản

Một cuộc điều tra do Chính phủ Malaysia tiến hành đối với 5232 dự án nghiên cứu được thực thi bởi các cơ quan nghiên cứu công và các trường đại học của Malaysia trong quá trình thực hiện kế hoạch lần thứ 6 (1991-1995) và thứ 7 (1995-1999) cho thấy 14.1% số lượng dự án có tiềm năng thương mại hóa và chỉ 5.1% là thực sự được thương mại hóa. Con số này giảm xuống còn 3.4% trong kế hoạch lần thứ 8 (2000-2005).

Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do nguồn vốn đầu tư từ cả khu vực công và khu vực tư nhân cho việc thương mại hóa công nghệ ở Malaysia còn thiếu và chưa đa dạng; các chính sách hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ và thuế chưa hoàn thiện; không có sự liên kết giữa khu vực doanh nghiệp tư nhân và các cơ quan nghiên cứu phát triển trong việc đưa nghiên cứu vào thực tiễn; điều này có thể xuất phát từ nhận thức và hiểu biết lẫn nhau giữa các bên còn thấp.

Trong giai đoạn 1991-2005, ở Malaysia, các quỹ đầu tư cho hoạt động thương mại hóa không có nhiều. Bên cạnh Bộ Khoa học Công nghệ và Đổi mới Malaysia, có một số cơ quan như Tập đoàn phát triển truyền thông đa phương tiện, Tập đoàn phát triển công nghệ Malaysia, Quỹ đầu tư mạo hiểm Malaysia là những nguồn cung cấp tài chính và hỗ trợ chủ yếu cho hoạt động thương mại hóa nghiên cứu phát triển. Tuy nhiên, ngân sách của các quỹ này là không nhiều (khoảng 20-80 triệu USD/5 năm) trong khi chi phí cho thương mại hóa thường chiếm 70-85% tổng chi phí đầu tư.

Sự tham gia của khu vực tư nhân và ngân hàng cho các hoạt động thương mại hóa các nghiên cứu phát triển cũng rất hạn chế. Hầu như không có hình thức đầu tư ban đầu của khu vực tư nhân (angel investors) cho các kết quả nghiên cứu ở Malaysia, và các ngân hàng cũng không cung cấp những khoản vay cho các công ty công nghệ mới khi rủi ro kinh doanh cao. Do đó, hoạt động thương mại hóa nghiên cứu chủ yếu trông chờ vào nguồn tài trợ, hỗ trợ ban đầu từ Chính phủ. Ngoài ra, ở Malaysia các chính sách về sở hữu trí tuệ và khuyến khích thương mại hóa qua ưu đãi thuế, ví dụ như thuế thu nhập doanh nghiệp, nhập khẩu, đầu tư, thuế giá trị ra tăng cũng chưa hoàn thiện. Không có nhiều bằng chứng cho thấy Malaysia có các chính sách riêng biệt cho các công ty công nghệ mới. 

Một vấn đề nữa cản trở hoạt động thương mại hóa nghiên cứu phát triển của Malaysia đó là hầu như không có sự liên kết giữa khu vực nghiên cứu với khu vực doanh nghiệp tư nhân. Thực tế này có lẽ xuất phát từ nhận thức của khu vực doanh nghiệp tư nhân về nghiên cứu phát triển còn kém, thậm chí khu vực này còn không xem các trường đại học và viện nghiên cứu như một nguồn sáng tạo quan trọng mà họ chỉ tập chung gia công cho các tập đoàn nước ngoài và vì vậy trong suốt thời gian qua khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thất bại trong việc vượt qua hàng rào của chuỗi giá trị toàn cầu. Về phía đại học, nhận thức về đại học doanh nghiệp cũng rất hạn chế, phần lớn các đại học của Malaysia tin rằng đại học chỉ nên tham gia vào việc tạo ra tri thức chứ không tham gia vào kinh doanh theo kiểu thương mại hóa. Chính vì vậy mà ở các trường đại học Malaysia không thực sự có chiến lược khoa học công nghệ định hướng thương mại hóa cũng như không có các bộ phận chuyên biệt hỗ trợ cho thương mại hóa nghiên cứu phát triển.

Tăng cường đổi mới

Bên cạnh việc tăng đầu tư cho nghiên cứu phát triển và thương mại hóa (năm 2010 đầu tư 60 tỉ USD), các khoản đầu tư của Chính phủ cũng được đa dạng hóa dưới dạng các chương trình, các quỹ định hướng thương mại hóa cho nghiên cứu phát triển. Các kế hoạch tài trợ nghiên cứu mới được thiết lập bên cạnh kế hoạch tài trợ cho nghiên cứu cơ bản truyền thống, ví dụ như kế hoạch tài trợ cho nghiên cứu khám phá (ERGS), kế hoạch tài trợ nghiên cứu dài hạn (LRGS) hay kế hoạch tài trợ nghiên cứu Prototype (PRGS). Ngoài ra, các chương trình tài trợ cũng được đa dạng hóa và mang tính chuyên biệt cho hoạt động thương mại hóa.

Dưới đây là các loại hình chương trình, quỹ thúc đẩy các hoạt động thương mại hóa nghiên cứu của Malaysia:

- C hương trình đầu tư Cradle : Cấp vốn ban đầu cho việc cải tiến các công nghệ thành các sản phẩm có khả năng thương mại hóa. Chương trình cũng bao gồm cả các chương trình trợ giúp cho các công ty công nghệ và việc bán quyền sở hữu trí tuệ của trường đại học.

- Chương trình hỗ trợ ứng dụng tin học (DAGS) : là chương trình được quản lý bởi Bộ Khoa học Công nghệ và Đổi mới Malaysia (MOSTI) cấp vốn tài trợ cho các dự án sản xuất thử nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông cho cộng đồng.

- Quỹ eContent : tài trợ cho các dự án tạo ra các nội dung số.

- Quỹ InnoFund : Được quản lý bởi MOSTI, chuyên cấp vốn cho các dự án thương mại hóa cải tiến (innovation).

- Chương trình tài trợ sở hữu trí tuệ và hành lang truyền thông đa phương tiện : Được quản lý bởi Tập đoàn phát triển truyền thông đa phương tiện, Chương trình này cung cấp hỗ trợ lên đến 70% chi phí bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, điều này được thực hiện trên cơ sở hoàn trả và ứng dụng phải được thực hiện sau khi quá trình kết thúc.

- Chương trình tài trợ nghiên cứu phát triển (MSC) : Chương trình được quản lý bởi Tập đoàn phát triển truyền thông đa phương tiện, cung cấp hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển ở Malaysia.

- Quỹ eScience : Quản lý bởi MOSTI, tài trợ cho các dự án nghiên cứu phát triển trong các lĩnh vực ưu tiên ở các trường đại học.

- Quỹ công nghệ (Techno Fund) : tài trợ cho các dự án tiền thương mại hóa và các dự án có khả năng tạo ra quyền sở hữu trí tuệ.

- Chương trình tài trợ ươm mầm cho doanh nghiệp công nghệ : quỹ tài trợ cho việc sáng tạo để tạo ra các công ty mới về công nghệ.

Về mặt tổ chức đối với sự phát triển hoạt động thương mại hóa, Malaysia khuyến khích i) thành lập các trường đại học tư nhân, ii) thành lập các trung tâm tư vấn kỹ thuật và dịch vụ, iii) Nhấn mạnh vào nghiên cứu, ví dụ như đưa ra các chương trình nghiên cứu, thiết lập khái niệm “đại học nghiên cứu” và “đại học đỉnh cao” cho các trường đại học công, khuyến khích thành lập các trung tâm quản lý nghiên cứu trong các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp và cuối cùng là iv) nhấn mạnh vào thương mại hóa các nghiên cứu phát triển. Bên cạnh các chính sách về khoa học công nghệ và tổ chức, Malaysia cung đã đưa ra nhiều chính sách về thuế để khuyến khích việc thành lập các công ty công nghệ mới từ các nghiên cứu phát triển. Các chính sách ưu đãi về tài chính bao gồm miễn thuế thu nhập cho các công ty công nghệ tiên phong hay bao 100% thuế đầu tư cho các chi phí vốn nâng cấp, phát triển công ty, giảm hai lần chi phí nghiên cứu phát triển và chi phí vốn, miễn thuế nhập khẩu và cấp vốn xây dựng...

Những cải cách về chính sách của Malaysia đối với hoạt động thương mại hóa nghiên cứu nói chung và trong các trường đại học nói riêng đã và đang thúc đẩy hoạt động này phát triển. Ví dụ hoạt động thương mại hóa trong các trường đại học và việc nghiên cứu ở Malaysia đã được cải thiện đáng kể. Bảng dưới đây cho thấy trong năm 2008 các trường đại học công lập Malaysia đã đóng góp 40 sáng chế, 122 nhãn hiệu, 58 sản phẩm mới, và 313 sản phẩm có tiềm năng thương mại hóa trong năm 2008.

Bảng 2: Sản phẩm thương mại hóa ở các trường Đại học công  Malaysia 2008

Trường đại học

Sáng chế

Nhãn

hiệu

Sản phẩm được thương mại hóa

Sản phẩm tiềm năng

Tổng tài sản trí tuệ

Universiti Teknologi Malaysia

9

28

6

110

153

Universiti Putra Malaysia

12

27

16

15

70

Universiti Kebangsaan Malaysia

3

20

0

33

56

Universiti Malaya

0

11

3

31

45

Universiti Sains Malaysia

11

4

15

9

39

Universiti Teknologi Mara

5

22

8

0

35

Các trường đại học công lập khác

0

10

16

130

156

Tổng số

40

122

58

313

533


Nguồn:Bộ Giáo dục đại học Malaysia

Nếu xét theo số liệu của giai đoạn 2006-2010 (Bảng 1), thì hằng năm các trường đại học công lập của Malaysia trung bình đóng góp khoảng 25% số lượng sáng chế của cả nước.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.