Lưu chú
1. Đại cương
Lưu chú là chứng bệnh gây ung nhọt (áp xe sâu) làm mủ ở các vùng có cơ bắp to, sâu. Nguyên nhân chủ yếu là do cơ thể chính khí vốn đã hư nhược bị cảm nhiễm các độc tà (như tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn và nhiều loại táp khuẩn khác...) ẩn phục trong cơ thể. Lưu chú thường mọc ở những vùng cơ bắp to như: bắp chân tay, đùi, ngực, eo lưng, mông... Đặc điểm của bệnh là tại chỗ sưng đau, âm ỉ, sắc da bình thường khó phát hiện trong thời gian đầu, (tương đương với áp xe chùm của YHHĐ). Tuỳ theo đặc điểm như: thời tiết, nguyên nhân gây bệnh, mùa phát bệnh... mà có tên bệnh khác nhau như: bệnh phát về mùa hè thu thì gọi là thử thấp lưu chú; do đinh nhọt gây nên thì gọi là dư độc lưu chú; sau sinh đẻ hoặc chấn thương ứ huyết phát sinh bệnh gọi là ứ huyết lưu chú...
2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Theo Đông y, lưu chú chủ yếu là do chính khí suy, tà khí phục sẵn lưu chú trong cơ thể hợp với sức đề kháng suy giảm hiệp với những yếu tố thuận lợi như: thời tiết trái thường nhọt, chấn thương, sau sinh đẻ huyết hư bị ủng trệ không ra hết... phát sinh bệnh lưu chú.
3. Biện chứng luận trị
* Triệu chứng lâm sàng chung: trước khi phát bệnh thường có các chứng trạng của chính khí hư như: phế âm hư, các chấn thương, các chứng đinh nhọt, ung lâu ngày hoặc sau sinh đẻ bị băng huyết hoặc sau đẻ huyết hưu không ra hết hoặc mắc một số bệnh nội khoa như: tiêu khát, phế âm hư... Sau đó xuất hiện các triệu chứng nhiệt như sốt cao, sợ lạnh, khát nước. Bệnh thường tiến triển qua 3 thời kỳ:
+ Sơ kỳ: bắt đầu vùng cơ bắp chân, tay, mông hoặc lưng... sưng đau nhiều bắp cơ, cơ sưng lan rộng mà da không thay đổi và hơi nóng. Khoảng 3-5 ngày sau, sưng nóng và càng đau hơn, sờ thấy khối cứng, sốt cao kèm theo rét run, các khớp đau, đầu đau căng tức, chán ăn. Trường hợp thử thấp lưu chú thì người đầy tức, ậm ạch khó chịu, khát mà không muốn uống, rêu lưỡi vàng, dày. Mạch nhu sác...
+ Thời kỳ làm mủ: nhọt sưng to đau nhiều, khoảng 2 tuần, vùng trung tâm nhọt đỏ, mềm, màu tái dần, sốt cao miệng khát, có lúc ra mồ hôi; chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch sác.
+ Thời kỳ vỡ mủ: mủ màu vàng đặc lẫn với mủ nhầy trắng, đau và sốt giảm, ăn ngon hơn sau 2 tuần hết mủ và lành miệng. Nếu thể trạng yếu lưu tà nhiều, độc tà chưa hết xuất hiện sau khi vỡ mủ mụn này chưa lành thì mụn khác đã phát ra, sốt liên tục, cơ thể gầy sút, sắc mặt tái nhợt. Mạch hư nhược. Nếu nặng thì hôn mê nói sảng, ngực sườn đau, khó thở... là dấu hiệu độc tà đã xâm nhập vào tạng phủ.
Các thể lâm sàng:
a. Nhiệt độc thịnh:
* Triệu chứng lâm sàng: là bệnh đang ở sơ kỳ và trung kỳ. Nhọt sưng to dần, đau nóng nhiều, sốt cao khát nước, bứt rứt kém ăn, tiểu tiện vàng sẻn, táo bón. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch hoạt sác hoặc hồng sác.
* Phương pháp điều trị: thanh nhiệt giải độc hoà dinh tiêu thũng.
* Bài thuốc: hoàng liên giải độc thang hợp ngũ thần thang:
Phục linh 16g, kim ngân hoa 12g, ngưu tất 16g, xa tiền 12g, tử hoa địa đinh 12g, hoàng cầm 12g, hoàng bá 12g, hoàng liên 8g, chi tử 12g.
Cách bào chế: các vị trên + nước 2000ml, sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.
Cách dùng: sắc uống ngày 1 thang chia làm 3 lần.
Gia giảm:
+ Bệnh phát về mùa hè gia: hoắc dương, trạch lan, lục nhất tán.
+ Bệnh do sau sinh đẻ hoặc chấn thương gia: đan sâm, đào nhân, hồng hoa.
+ Hôn mê nói sảng uống phối hợp với: an cung ngưu hoàng hoàn, tử tuyết đơn.
+ Mủ nhiều gia: xuyên sơn giáp, tạo giác thích.
b. Chính khí hư tà truyền:
* Triệu chứng lâm sàng: thường gặp vào thời kỳ vỡ mủ hoặc bệnh tái phát nhiều lần, nhọt hết, sưng đau giảm nhưng nước mủ chảy rỉ rả, miệng nhọt đỏ nhạt (tổ chức hạt), vẫn còn sốt nhẹ, chán ăn, tinh thần mệt mỏi, lưỡi nhợt ít rêu. Mạch tế sác hoặc hư sác.
* Phương pháp điều trị: ích khí dưỡng âm, thanh lý trừ hư nhiệt.
* Bài thuốc: tứ diệu thang gia giảm:
Hoàng kỳ 12g, kim ngân hoa 12g, đương qui 12g, cam thảo 8g, hoàng cầm 12g, tử hoa địa đinh 12g, sinh địa 16g, thái tử sâm 10g.
Cách bào chế: hoàng kỳ, cam thảo chích; các vị trên + nước 2000ml, sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.
Cách dùng: sắc uống ngày 1 thang chia làm 3 lần.
* Thuốc dùng ngoài
1. Sơ kỳ: đắp kim hoàng cao hoặc ngọc lộ cao.
2. Trung kỳ có mủ: chích rạch da nặn mủ.
3. Hậu kỳ mủ: dùng chỉ tẩm bạch nhị đơn dẫn lưu, hết mủ bôi sinh cơ cao hoặc thái ất cao.
Nguồn: T/c Đông y, số 366,25/10/2004, tr 19







