Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 28/09/2009 16:56 (GMT+7)

Lời tựa cho cuốn Chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân

Đây là một vinh dự lớn đối với tôi được đề tựa cho cuốn sách tập hợp những bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hiện là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng tư lệnh quân đội nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Tướng Giáp phát biểu với uy tín của kinh nghiệm phong phú cá nhân đồng thời với uy tín của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng. Tác phẩm, với nội dung mang tính thời sự thường trực của nó, có một ý nghĩa lớn hơn do hàng loạt sự kiện sôi nổi xảy ra gần đây trong khu vực châu Á này, và do sự xuất hiện những ý kiến trái ngược về việc sử dụng đấu tranh vũ trang như là phương tiện nhằm giải quyết những mâu thuẫn không thể vượt qua giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định.

Cuộc đấu tranh anh dũng của quân đội và toàn thể nhân dân Việt Nam đã đạt được thắng lợi trong nhiều năm và đang được lặp lại hiện nay; miền Nam Việt Nam đang tiến hành cuộc chiến tranh trong phần lãnh thổ bị cướp đoạt từ tay người chủ chân chính là nhân dân Việt Nam, và càng ngày càng đến gần thắng lợi. Dù cho kẻ thù đế quốc đang đe doạ đưa đến hàng nghìn quân, dù cho những kẻ điên cuồng nhất nói rằng sẽ dùng đến bom nguyên tử, và dù cho tướng Taylor được cử làm đại sứ ở cái gọi là “Cộng hoà Nam Việt Nam” và như vậy, trên thực tế trở thành tổng chỉ huy các đội quân đang muốn xoá bỏ cuộc chiến tranh nhân dân, nhưng không có gì ngăn cản được sự thất bại của nó. Gần ngay bên cạnh, ở nước Lào, cuộc hỗn chiến đã bùng nổ, cũng do những âm mưu của Mỹ, được những kẻ đồng minh muôn thuở hỗ trợ bằng cách này hay cách khác. Vương quốc trung lập Campuchia, vốn cùng các nước anh em Lào và Việt Nam, hợp thành Đông Dương thuộc Pháp trước kia, đang là nạn nhân của sự vi phạm biên giới và tấn công thường xuyên do vị trí bảo vệ sự trung lập và quyền sống của một quốc gia có chủ quyền.

Với tất cả những điều đó, tác phẩm mà tôi đề tựa đã vượt ra khỏi ranh giới của một giai đoạn lịch sử nhất định, và có giá trị với toàn khu vực. Hơn nữa, những vấn đề nêu lên có một tầm quan trọng đặc biệt đối với phần lớn nhân dân các nước Mỹ Latinh, bị đế quốc Mỹ thống trị, không kể đến ý nghĩa kiến thức rộng lớn đối với nhân dân châu Phi đang tiến hành hang ngày những cuộc đấu tranh ngày càng gay go, mà cũng đôi khi giành được thắng lợi chống mọi thứ chủ nghĩa thực dân.

Nước Việt Nam có những đặc tính riêng biệt: Một nền văn minh rất lâu đời, một lịch sử lâu dài với tư cách là một vương quốc độc lập có những đặc thù và một văn hoá của mình. Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm, giai đoạn thực dân Pháp chỉ là một giọt nước. Tuy nhiên, những đặc tính cơ bản, đối lập với kẻ xâm lược, nói chung đều giống những mâu thuẫn không thể vượt qua đang tồn tại trong toàn bộ thế giới bị phụ thuộc, cũng như phản ánh những phương sách để giải quyết. Không biết đến những luận văn nào cũng như những bài viết về kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc, vậy mà Cuba đã bước vào con đường giải phóng bằng những phương pháp tương tự, với những thắng lợi mà toàn thế giới ngày nay đều biết.

Do vậy, tác phẩm này đặt ra những vấn đề tổng quát đối với thế giới đang đấu tranh giải phóng. Những vấn đề đó có thể tóm tắt như sau: khả năng đấu tranh vũ trang trong những điều kiện riêng biệt khi các phương pháp đấu tranh vũ trang đó trong phạm vi rộng lớn thích hợp với chiến tranh du kích, với một cư dân nếu không phải đa số là nông dân, thì cũng chiếm phần quan trọng.

Tuy cuốn sách này dựa trên sự tập hợp của nhiều bài viết, nó vẫn có tính nhất quán, và một vài chỗ lặp lại chỉ cho thấy tầm quan trọng hơn trong toàn thể.

Nó bàn về cuộc chiến tranh giải phóng Việt Nam , phân tích cuộc đấu tranh này như là chiến tranh nhân dân, được coi là cánh tay vũ trang của quân đội nhân dân. Nó cũng bàn đến những kinh nghiệm lớn của Đảng trong chỉ đạo đấu tranh vũ trang và trong việc tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng. Chương cuối cùng mô tải giai đoạn cuối của cuộc xung đột, Điện Biên Phủ, khi lực lượng giải phóng đã vượt trội về chất lượng và chuyển sang chiến tranh trận địa, có thể đánh bại kẻ thù đế quốc ngay trên vị trí này.

Cuốn sách mở đầu bằng sự trình bày vào cuối chiến tranh thế giới và chiến thắng của Liên Xô cùng với đồng minh phương Tây, nước Pháp đã vi phạm mọi hiệp định và tạo nên tình hình cực kỳ căng thẳng trong cả nước. Những phương pháp hoà bình và kêu gọi thiện chí để giải quyết bất đồng đã tỏ ra không hiệu quả, nhân dân phải đi vào cuộc đấu tranh vũ trang, mà do tính chất đặc biệt của đất nước, phải dựa chủ yếu vào nông dân. Đấy là cuộc chiến tranh mang tính nông dân do vùng đất hoạt động và do thành phần cơ bản của quân đội, nhưng được chỉ đạo dưới ý thức hệ vô sản, một lần nữa lấy liên minh giữa công nhân và nông nhân như là nhân tố cơ bản của thắng lợi. Ngay cả khi trong thời gian đầu, do tính chất đấu tranh chống thực dân và chống đế quốc, nó đã trở thành cuộc chiến tranh toàn dân. Những người có nguồn gốc xã hội không phù hợp chính xác với định nghĩa cổ điển về nông dân nghèo hay về công nhân, đã tham gia vào cuộc chiến tranh giải phóng rất đông. Trận địa dần dần rạch ròi và cuộc đấu tranh chống phong kiến bắt đầu, nêu bật tính chất thực sự chống đế quốc, chống thực dân, chống phong kiến, với mục tiêu xây dựng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tính chất đấu tranh của quần chúng đã được đảng Việt Nam vận dụng trong suốt cuộc chiến tranh. Trước hết nó được sử dụng vì chiến tranh du kích không có gì khác là một cuộc đấu tranh của quần chúng và nó không thể cách ly khỏi môi trường tự nhiên của nó là nhân dân. Chiến tranh du kích trong trường hợp này là một cuộc tiến công quân sự, hạn chế về số lượng so với đại đa số nhân dân, ít được trang bị nhưng biểu hiện quyết tâm chiến thắng của đội quân tiên phong. Ngoài ra, đấu tranh quần chúng thường xuyên được áp dụng ở thành thị như là vũ khí không thể thiếu để mở rộng đấu tranh. Cần nói rõ là trong diễn biến cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân Việt Nam, chưa bao giờ cuộc đấu tranh quần chúng lại từ bỏ quyền của mình để đổi lấy sự nhượng bộ lẫn nhau, nhưng đã khẳng định sự cần thiết đạt đến tự do và những đảm bảo không thể thay thế, như vậy đã ngăn ngừa trong một số khu vực chiến tranh sẽ trở nên tàn khốc hơn cuộc chiến của thực dân Pháp. Ý nghĩa của cuộc đấu tranh quần chúng đó, và tính chất năng động không khoan nhượng, có tầm quan trọng cơ bản để hiểu cuộc đấu tranh giải phóng ở châu Mỹ Latinh.

Chủ nghĩa Mác đã được vận dụng một cách nhất quán vào tình hình lịch sử cụ thể của Việt Nam . Và vì vậy mà dưới sự dẫn dắt của đảng tiền phong, hy sinh vì nhân dân và trung thành với lý tưởng, họ đã giành được thắng lợi rực rỡ trước bọn đế quốc.

Những đặc điểm của cuộc đấu tranh - trong đó có những lúc phải rút lui và phải chờ đợi nhiều năm để đi đến thắng lợi - với sự lui tới, cao trào và thoái trào, khiến cho nó mang tính chất một cuộc chiến trường kỳ.

Trong suốt cuộc đấu tranh đó, có thể nói mặt trận diễn ra ở bất cứ nơi nào có kẻ địch. Vào một lúc nào đó, kẻ địch chiếm đóng hầu như toàn bộ đất nước, và mặt trận phải phân tán ở những nơi nào có địch. Sau đấy có sự phân định chiến tuyến, với mặt trận chính, nhưng hậu phương quân địch vẫn thường xuyên là mặt trận của các đơn vị chiến đấu, khiến cho chiến tranh trở thành toàn diện và bọn thực dân không bao giờ có thể dễ dàng huy động trên những cơ sở vững chắc, quân đội xâm lược của chúng để tấn công vùng giải phóng.

Phương châm “Cơ động, chủ động, linh hoạt, quyết định nhanh trước tình hình mới” là sự tổng hợp và tinh thần của chiến thuật du kích. Và chỉ trong mấy câu đó cũng nói lên tất cả khó khăn của nghệ thuật chiến tranh nhân dân.

Vào một lúc nào đó, cuộc chiến tranh du kích mới, dưới sự lãnh đạo của đảng, lại ở vào những nơi lực lượng quân Pháp rất mạnh, và nhân dân hoang mang lo sợ. Trong trường hợp đó, nó phải tiến hành thường xuyên cái mà người Việt Nam gọi là “tuyên truyền vũ trang”. Tuyên truyền vũ trang, đơn giản là sự có mặt ở những địa điểm nhất định, những lực lượng giải phóng biểu lộ sức mạnh và sức chiến đấu của mình và hoà vào trong biển cả nhân dân như con cá trong nước. Đóng quân trong khu vực, đội tuyên truyền vũ trang kích động quần chúng và thúc đẩy những cuộc nổi dậy trong vùng, giành thêm những vùng đất mới cộng vào những nơi đã được quân đội nhân dân chiếm lĩnh. Như vậy là những căn cứ và khu du kích được nhân lên trên toàn lãnh thổ Việt Nam . Chiến thuật được tóm tắt theo phương châm sau: Nếu kẻ địch tập trung, chúng sẽ mất đất; nếu kẻ địch phân tán, chúng sẽ mất sức mạnh. Khi quân địch tập trung để tấn công bằng sức mạnh, thì phải phản ứng lại bằng tấn công vào những nơi mà chúng không triển khai quân; khi quân địch muốn chiếm đóng những vị trí đã định bằng những đơn vị nhỏ, phản ứng sẽ diễn ra tuỳ theo tương quan lực lượng ở mỗi nơi, nhưng lực lượng chủ chốt của địch một lần nữa sẽ bị phân tán. Đấy là một bài học cơ bản khác trong chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam .

Trong cuộc đấu tranh, có ba giai đoạn nối tiếp nhau, biểu hiện tổng quát sự phát triển của chiến tranh nhân dân. Bắt đầu bằng những nhóm du kích nhỏ, cực kỳ cơ động, hoàn toàn tan biến vào địa hình và dân cư trong khu vực. Cùng với thời gian, sự phát triển về số lượng diễn ra, cho phép đến một lúc nào đó có bước nhảy về chất, nghĩa là chuyển sang vận động chiến tranh. Lúc này đã có những đơn vị rộng hơn, chiếm đóng cả một vùng; dù cho phương tiện và khả năng tấn công địch của nó mạnh hơn, cơ động vẫn là đặc tính cơ bản. Sau khi các điều kiện đã chín muồi, thì đi đến giai đoạn cuối cùng của đấu tranh, khi quân đội đã củng cố và đi đến tiến hành một cuộc chiến trận địa, như đã xảy ra ở Điện Biên Phủ, đánh đòn chí mạng vào nền độc tài thuộc địa.

Trong cuộc xung đột, đã phát triển một cách biện chứng để đi đến tận cùng trong cuộc chiến trận địa tấn công vào Điện Biên Phủ, đã hình thành những vùng giải phóng hay nửa giải phóng, tạo thành những khu vực tự vệ. Tự vệ cũng được người Việt Nam hiểu theo nghĩa tích cực, như một bộ phận của cuộc đấu tranh chung chống kẻ thù. Những khu vực tự vệ có thể tự bảo vệ chống lại những cuộc tấn công có giới hạn, nó cung cấp người cho quân đội nhân dân, duy trì trật tự trong vùng, sản xuất và cung cấp cho mặt trận. Tự vệ chỉ là một bộ phận nhỏ trong toàn thể, với những đặc tính riêng. Không bao giờ được cọi khu vực tự vệ là một tổng thể với những lực lượng nhân dân cố tự bảo vệ chống lại sự tấn công của kẻ địch trong khi các khu vực xung quanh vẫn yên bình. Nếu diễn ra như vậy, trung tâm xung đột sẽ bị phát hiện, bị tấn công và phá huỷ, trừ khi nó phải quay trở lại giai đoạn đầu của chiến tranh nhân dân, nghĩa là chiến đấu du kích.

Như chúng tôi đã nói, mọi quá trình đấu tranh ở Việt Nam đều dựa vào nông dân.

Trong thời gian đầu, do thiếu một định nghĩa rõ ràng về bối cảnh đấu tranh, cuộc đấu tranh chỉ được tiến hành với mục tiêu giải phóng dân tộc. Nhưng dần dần, trận địa đã được phân định, cuộc đấu tranh trở thành một cuộc chiến tranh nông dân điển hình và cải cách ruộng đất được thực hiện trong quá trình đấu tranh đồng thời với những mâu thuẫn phát triển, như sức mạnh của quân đội nhân dân: tất cả những cái đó là biểu hiện của đấu tranh giai cấp trong một xã hội đang có chiến tranh. Nó được đảng lãnh đạo, với mục đích tiêu diệt càng nhiều kẻ địch và khai thác tối đa những mâu thuẫn giữa chủ nghĩa thực dân với những người bạn lừng chừng của chúng. Như vậy, khai thác một cách khôn ngoan các mẫu thuẫn, đảng đã lợi dụng được mọi lực lượng nảy sinh từ cuộc va chạm đó và đạt đến thắng lợi càng nhanh chóng.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp còn nói với chúng ta về mối liên hệ giữa đảng và quân đội, đấu tranh vũ trang chỉ là một nhân tố của đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh. Rồi đồng chí mô tả mối quan hệ tồn tại giữa đảng với nhân dân, trong đó quân đội và nhân dân là một, điều đó một lần nữa đã xác minh lời phân tích tuyệt vời của Camilo (1): “Quân đội là nhân dân mặc đồng phục”. Các lực lượng vũ trang trong và sau cuộc đấu tranh phải tiếp thu được một kỹ thuật mới giúp cho nó đối chọi thắng lợi với những vũ khí mới của kẻ địch và đầy lùi mọi cuộc tấn công.

Người lính cách mạng có một kỷ luật tự giác. Trong suốt quá trình đó, đặc trưng cơ bản của nó là tự khép mình voà kỷ luật. Đồng thời, trong quân đội nhân dân, trong sự tuân thủ mọi quy tắc quân sự, pảhi có dân chủ nội bộ rộng lớn và sự bình đẳng trong phân phối các nhu yếu phẩm cho chiến binh.

Với tất cả những ví dụ đó, tướng Giáp không những mô tả những điều mà chúng ta đã biết do kinh nghiệm của mình - kinh nghiệm thu được vài năm sau chiến thắng của lực lượng nhân dân Việt Nam (2) - nhưng còn nhấn mạnh sự cần thiết phân tích sâu sắc quá trình lịch sử hiện tại. Việc đó phải được thực hệin dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác, sử dụng khả năng sáng tạo của nó, để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh biến đổi của mỗi nước, khác nhau trên mọi biểu hiện bên ngoài, nhưng giống nhau ở cấu trúc thuộc địa, do sự tồn tại của một quyền lực đế quốc áp bức và một giai cấp gắn với nó bằng những dây liên hệ chặt chẽ. Bằng một sự phân tích chính xác, tướng Giáp đi đến kết luận như sau: “Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, một dân tộc, dù nhỏ yếu, đã đứng lên muôn người như một dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để quyết tâm đấu tranh giành độc lập và dân chủ, sẽ có khả năng tinh thần và vật chất để chiến thắng bất cứ kẻ xâm lược nào. Trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đó có thể trải qua một cuộc đấu tranh vũ trang lâu dài - cuộc kháng chiến trường kỳ - để đi tới thắng lợi” (3). Lời nói đó tổng hợp tính chất tổng quát mà chiến tranh giải phóng phải gánh vác trong những vùng đất bị chiếm đóng.

Chúng tôi nghĩ rằng lời nói tốt đẹp nhất để khép lại lời tựa này là lời mà nhà xuất bản cuốn sách đã dùng, những lời nói mà chúng tôi hoàn toàn đồng tình: “Chúng tôi hy vọng rằng tất cả bạn bè của chúng ta, giống như chúng ta, đang còn phải đau khổ trước mối đe doạ và tấn công của chủ nghĩa đế quốc, có thể tìm thấy trong cuốn Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân,những gì mà bản thân chúng ta phát hiện được: những lý lẽ mới để tin tưởng và hy vọng”.

Đào Hùng dịch

(*)Ernesto Che Guevara, lời tựa cuốn: Võ Nguyên Giáo, Guerra delpueblo, Ejercito del pueblo,Nxb Politica, La Habana, 1964.

1) Camilo Cienfuegos.

2) Điện Biên Phủ bị tiêu diệt ngày 7 tháng 5 năm 1954. Castro, Guevara và nhóm Granmađổ bộ lên Cuba ngày 2 tháng 12 - 1956, La Habana được giải phóng ngày 1 tháng 1 – 1959.

3) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân – Kinh nghiệm đấu tranh vũ trang của nhân dân Việt Nam,NXb Ngoại văn, Hà Nội, 1961, tr 121 (bản dịch tiếng Tây Ban Nha).

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.