Lệ Mường xưa về bảo vệ và khai thác nguồn lợi thiên nhiên
Tuy vậy, có những quy định đã vượt khỏi phạm vi cộng đồng nhỏ mà trở thành phổ biến trong đời sống người Mường và là bộ phận rất quan trọng trong lệ tục các mường. Đó là quy định về bảo vệ và khai thác hợp lý các nguồn lợi thiên nhiên, cụ thể là bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản, mai…
Đối với nguồn lợi từ tre, nứa, bương, mai
Tuy không có văn bản, nhưng Lệ Mường có thể diễn đạt khá rõ ràng như sau: “Bắt đầu từ khi măng (tre, bương…) mọc cho đến trước ngày 30 – 6 âm lịch hàng năm, bất luận là ai cũng không được bẻ măng, dù đó là măng trong rừng hay ở các gò… hoặc do trồng trong vườn nhà. Kẻ vi phạm dù là trẻ con hay người lớn nếu bị bắt, gia đình ấy phải nộp phạt cho mường một con lợn cái to từ 3 nắm tay (một đơn vị đo lường cổ truyền theo chiều dài của nắm tay ướm vào vòng cổ của con vật – BTV) trở lên (khoảng 30kg).
Điều này cũng được áp dụng cả trong các trường hợp: “Nhà ai thả rông trâu, bò, dê, lợn… đi ăn măng hay làm gẫy, đổ măng, nhà chủ gia súc ấy phải nộp phạt cho mường một con lợn cái”.
Đến ngày 20 – 6 âm lịch hàng năm, lý trưởng hoặc lang đạo cai quản các bản mường phát hiệu lệnh bằng miệng, trống mới được bắt đầu thu hái măng.
Tại sao đồng bào Mường lại đề cao việc bảo vệ măng, tre, bương… như vậy? Trong đời sống ở các bản mường thì tre, bương và các sản phẩm từ tre, bương được sử dụng, gắn bó rất mật thiết với đời sống hàng ngày. Ngôi nhà sàn cổ truyền của các gia đình nghèo, trừ mái lợp cỏ tranh hoặc rạ, cột nhà làm bằng các cây tre, luồng, nứa. Ngay cả những bó lạt dùng để buộc néo cũng chủ yếu được vót từ dóng tre.
Các nhà quyền quý, nhà giàu thì ngoài cột, kèo bằng gỗ, đa phần vật liệu làm nhà của họ cũng chủ yếu là tre, bương. Khi trẻ sơ sinh cất tiếng khóc chào đời đã nằm trên nôi đu đan bằng tre, rồi suốt đời nằm trên sàn bương cho đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng là đòn cây tre đưa quan tài người quá cố về với làng ma.
Trình độ canh tác trong nông nghiệp khá cao, người Mường thường đóng những cọn xe nước, lợi dụng sức chảy của sông, suối kéo nước từ dưới thấp lên cao tưới cho đồng lúa, 99% vật liệu làm ra cọn xe nước là thuộc giống cây họ tre, nứa.
Muốn cho nước chảy mạnh thành luồng đẩy cọn xe nước hoặc cho nước dâng cao lên mương dẫn vào đồng ruộng, người ta tổ chức ngăn sông bằng con đập thô sơ, gọi là cái bai nước. Bai ngăn nước sông là vô số những cọc tre ken nhau 2, 3 lớp đóng xuống dòng sông, chúng chịu ngâm nước lâu năm không mục, cùng là vật chịu lực đỡ các tấm phên nứa nối nhau ngăn nước chắn ngang dòng sông…
Còn rất nhiều những lợi ích khác mà họ tre, nứa đem lại cho con người. Chính vì những lợi ích và tầm quan trọng của tre, bương đối với sinh hoạt của người Mường nên bất cứ sự vi phạm, khai thác bừa bãi nào cũng gây tổn hại đến lợi ích chung của cả cộng đồng. Nguồn gốc để duy trì, phát triển rừng tre, bương chính là măng. Do đó, việc bảo vệ măng được đồng bào nâng lên thành lệ tục.
Đặc điểm sinh trưởng của măng, theo kinh nghiệm dân gian, thì măng bắt đầu mọc từ đầu mùa xuân cho đến tháng 6 âm lịch là thời gian ngọn măng phát triển thành cây lớn và tỷ lệ rất cao. Giai đoạn đó nắng nhiều, khí hậu nóng ẩm thuận lợi cho măng mọc tốt, khả năng kháng sâu bệnh cũng cao. Từ cuối tháng 6 âm lịch trở về sau măng vẫn còn mọc nhiều. Khi ấy thường có những đợt mưa dầm dài ngày, trời âm u nên sâu bệnh hại măng phát triển nhiều, cùng theo đó, gió, bão, thường quật đổ những cây măng mọc cao ngang cây mẹ. Nhìn chung, tỷ lệ thành cây ở thời gian này khá thấp nên người ta cho thu hái măng vào giai đoạn đó. Như thế, tri thức dân gian được đồng bào Mường vận dụng rất hữu hiệu, vừa cho cây phát triển lại vẫn có măng (một đặc sản ngon) để ăn.
Theo các cụ kể lại, mức phạt vật chất đối với những vi phạm quy định trên là rất nghiêm. Xã hội Mường xưa đa phần đều nghèo đói, sản xuất chỉ tự túc, tự cấp. Con lợn cái (lợn đẻ) là gia sản đáng kể, quý giá, chỉ đứng sau con trâu. Nó là con vật duy trì con giống cho chăn nuôi. Thịt lợn cái nói chung không ngon, vậy tại sao lệ Mường bắt buộc nộp phạt? Đây chính là hình phạt nặng trong luật tục, song cũng chủ ý để răn dạy, so sánh cây măng cũng như con lợn cái, nếu còn sống, nó sẽ sinh sôi, giết đi khác nào tiêu diệt nòi giống nó.
Đối với các nguồn lợi thủy sản
Nhà nghiên cứu người Pháp Keanne Cuisiner trong khi nghiên cứu về người Mường đã nhận thấy: “Nghề đánh cá tuy không có giá trị to lớn với người Mường song nó lại đem đến cho họ nguồn thu hoạch ổn định hơn là nghề đi săn”.
Lúa, ngô là lương thực. Ở các vùng núi, các bản mường sống xa sông suối, thì nghề săn thú rừng là để cung cấp thực phẩm giàu chất đạm. Những bản mường sống dọc theo các sông, suối, ngoài việc đi săn thì việc đánh bắt thủy sản là nguồn bổ sung chất đạm quan trọng trong bữa ăn thường nhật.
Trên các sông suối, đồng bào phân chia thành nhiều khu vực, trong đó quy định những khúc sông nào cấm không cho đánh bắt cá, những khúc sông khác thì được tự do đánh bắt cá, tôm.
![]() |
| Người Mường Chanh |
Qua khảo sát điền dã tại các khúc sông, suối cấm ngày xưa trên dòng sông Bưởi và một số sông, suối thuộc địa bàn tỉnh Hòa Bình, thấy các khúc sông này thường có mấy đặc điểm sau: Lòng sông sâu, dưới đáy có bãi cát thoai thoải, dòng chảy vừa phải, có nhiều ụ đá, hốc đá, hang ngầm, rất thuận tiện cho các loài cá sinh sản và ẩn náu. Vào tháng 3 âm lịch, nhà lang cho đánh cá, bởi thời kỳ này đang cuối mùa nước cạn, ít loại cá sinh đẻ.
Từ tháng 5 âm lịch trở lại, vào mùa mưa, các loại cá đến mùa sinh đẻ, lúc này cấm đánh bắt cá. Việc phân vùng thủy vực để cấm như trên mang tính quy hoạch rất khoa học. Diện tích các khúc sông cấm nhỏ hơn nhiều so với các khúc sông được đánh bắt tự do nên vẫn thỏa mãn nhu cầu khai thác nguồn lợi thủy sản của người dân, lại vẫn tạo được nơi an toàn cho cá ẩn náu và sinh sản. Nguồn tôm cá được bảo vệ như thế sẽ không bao giờ bị cạn kiệt.
Những khúc sông cấm được thêu dệt nên nhiều câu chuyện, có truyền thuyết ly kỳ, bí hiểm. Dân gian còn cho đó là những nơi ở của một số loài thủy quái, như: rồng, khú, vua Thủy Tề… Ngày thường, ai dám xâm phạm đánh bắt cá sẽ kinh động cuộc sống dưới nước, sẽ bị chúng trừng phạt, làm cho chết đuối hoặc ốm đau cho gia đình kẻ vi phạm. Ngày nay nhìn lại mới nhận ra đấy là cách thần thánh hóa, linh thiêng hóa những vùng cấm, làm cho người ta sợ hãi, không dám đánh bắt trộm cá, tôm.
Đồng bào Mường ở xóm Cọi, xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn (tỉnh Hòa Bình) vẫn còn lưu truyền câu chuyện có thật xảy ra dưới chế độ cũ: Ông Quách Ruôi là người Mường Cọi, nhờ giàu có nên mua được chức lý trưởng. Ban đầu người dân không phục, các lệ nạn trong mường thường xảy ra. Đang vào thời gian cấm bẻ măng mà dân Mường đều bẻ trộm, nên hầu như không có ngọn măng nào moc được thành cây. Một hôm, đám trẻ con được người lớn xúi giục, chúng rình bắt được chú ruột của lý trưởng đang bẻ trộm măng. Chúng lôi ông chú cùng tang vật đến nhà lý trưởng đòi xét xử. Tình thế thật khó cho ông Ruôi, nhà ông chú lại rất nghèo, không có trâu, lợn. Mặc cho vợ con phàn nà, để củng cố lại kỷ cương, trật tự trong mường, ông Ruôi cho bắt ngay con lợn cái nhà mình vừa mới dẻ lứa con chưa đầy 2 tháng để nộp phạt cho mường, giúp ông chú ruột.
Trước sự kiên quyết, xử lý nghiêm minh của lý trưởng, từ đó mọi người trong mường đều tự giác, răm rắp tuân theo lệ mường.
Như vậy cùng với chế tài, hình phạt nặng, bản thân các chức sắc mường (người thực thi lệ tục) phải gương mẫu, không nể nang, xét xử phải công bằng, có thế người dân mới tin tưởng, tâm phục, tự giác thực hiện.
Gạn đục khơi trong, suy ngẫm qua 2 lệ tục trên, thấy rõ tri thức dân gian được vận dụng vào đời sống rất có hiệu quả ở thời xưa. Nếu được vận dụng, tổ chức tốt, nó vẫn còn nguyên giá trị đối với hôm nay.









