Kỹ thuật trồng dâu
Nhằm giúp đỡ người trồng dâu nuôi tằm và các cán bộ chỉ đạo sản xuất trong ngành, chúng tôi giới thiệu phần đầu cuốn “Cẩm nang trồng dâu nuôi tằm” là cuốn sổ tay chứa đựng những vấn đề cơ bản hàng ngày cho việc trồng dâu, nuôi tằm.
Phần một: Quy trình kỹ thuật trồng dâu
I. Chuẩn bị đất trồng, bón phân lót cho dâu
1. Tất cả các loại đất không bị úng hoặc ngập nước thường xuyên có độ dốc từ 15 độ trở xuống đều có thể dùng để trồng dâu.
2. Đất phải cày sâu (36-40cm) hai đến ba lần, bừa kỹ cho tơi xốp. Các khu đất mới khai hoang phải rà rễ thật kỹ. Khi chuẩn bị đất xong phải tiến hành phân lô, mỗi lô dâu không rộng quá 2ha.
3. Những vùng thường có gió mạnh, quanh mỗi lô đều phải chừa đai cây chắn gió. Nếu không có cây chừa tự nhiên phải trồng cây chắn gió. Tốt nhất là trồng tràm bông vàng hoặc keo tai tượng.
4. Sau khi phân lô, tiến hành rạch rãnh để trồng. Các lô đất bằng phẳng, rãnh được rạch theo hướng Đông- Tây. Các khu đất dốc, đất đồi, rãnh được rạch theo đường đồng mức.
Kích thước của rãnh sâu 35-40cm, miệng rộng 40cm, đáy 30cm.
5. Có thể dùng máy để rạch rãnh. Cũng có thể đào rãnh bằng cuốc xẻng. Nếu đào rãnh bằng tay phải đổ lớp đất mặt (20cm phía trên) sang một bên miệng rãnh, lớp đất dưới sang bên kia.
Khoảng cách các rãnh tuỳ theo loại đất và giống dâu:
- Đất phù sa tốt hoặc các giống dâu phân cành nhiều: 1,2 - 1,5m.
- Đất đồi hoặc các giống dâu phân cành ít: 0,8 - 1,2m.
- Đất phù sa cần trồng thêm các loại đậu: 2 - 2,5m.
6. Phân lót cho cây dâu cần:
- Phân chuồng tốt: 20-30m3.
- Phân lân: 1.000 - 1.500 kg/ha.
- Vôi bón ruộng: 500 - 800 kg/ha (nếu đất quá chua).
7. Cho phân xuống rãnh xong, đưa một phần lớp đất mặt xuống, dùng cuốc trọn đều phân với đất, cho tiếp tục một lớp đất mặt phủ lên trên sao cho rãnh còn thấp hơn mặt ruộng 5-10 cm (nếu trồng thời vụ cuối mùa mưa, đầu mùa khô) hoặc cao hơn mặt ruộng 5 cm (nếu trồng cuối mùa khô đầu mùa mưa).
II. Chuẩn bị hom giống, cách trồng dâu
8. Các giống dâu được trồng phổ biến hiện nay là: Bầu đen, Bầu trắng, Hà Bắc, Quang Biểu, các dòng dâu Tam bội như số 7,12, giống nhập nội, Kalva-2
Trong tất cả các giống đó, dâu Bầu đen có nhiều đặc điểm thích hợp với những vùng sinh thái ở Việt nam, chống hạn, chống bệnh, phẩm chất lá tốt.
Dâu Tam bội thích hợp cho các tỉnh phía Bắc.
Dâu Kalva.2 chất lượng tốt, năng suất cao, thích hợp cho vùng cao nguyên và nhiều nơi khác.
9. Thời vụ trồng dâu thích hợp:
- Các tỉnh phía Bắc, duyên hải miền Trung: Tháng 10-12 (từ sau lụt tiểu mãn).
- Miền Đông Nam bộ: Tháng 4-5 (đầu mùa mưa).
- Lâm Đồng: Tháng 4-5 ở các huyện phía Bắc và phía Nam tháng 9-10 và tháng 4-5 ở Bảo Lộc.
10. Hom giống phải chọn trên các ruộng dâu tốt: Không lẫn giống, không bị các loại rệp, sâu đục thân, bệnh vi khuẩn trong các thân, bệnh dán cao. Cây hom làm giống phải có tuổi từ 12 tháng trở lên và có đường kính thân 0,8 - 1,5 cm.
11. Sau khi hái vét sạch lá mới tiến hành chặt hom. Có thể dùng dao thật sắc hoặc máy đeo vai để đốn cây hom giống. Khi đốn, cho người nhặt ngay các cây đủ tiêu chuẩn xếp cùng chiều và bó theo từng bó từ 100 - 200 cây rồi đưa ngay về bảo quản nơi râm mát.
12. Khi cần chở hom đi xa phải để nguyên cây, nguyên bó. Phải chở bằng xe có bạt che nắng và hàng ngày phải tưới ẩm cho cây giống. Trên đường đi, khi nghỉ phải đậu xe nơi râm mát. Thời gian chuyên chở càng ngắn càng tốt. Nói chung, hom giống phải được trồng chậm nhất là sau 15 ngày kể từ lúc đốn với điều kiện bảo quản tốt.
13. Nơi chặt hom phải râm mát. Phải dùng dao sắc, tương đối nặng và kê chắc để chặt hom sao cho chỉ chặt một nhát là hom đứt gon, không bị dập thân, không bị nứt vỏ.
14. Hom được chặt từ gốc chặt lên. Trước hết chặt bỏ phần gốc già quá to hoặc vết đốn cũ. Chỉ lấy hom đến đoạn bánh tẻ của thân. Vết chặt phải tạo với trục thân một góc khoảng 45 độ. Vết chặt ở gốc hom gần sát với mầm cuối cùng, vết chặt ở ngọn hom cách mầm trên cùng 0,8 - 1 cm. Trong quá trình chặt, tiếp tục loại bỏ các đoạn hom xấu, hom bị bệnh.
15. Chiều dài của hom tiêu chuẩn là 20 - 25 cm, có từ 4 - 5 mầm ngủ tốt.
Vùng ven sông , suối, nơi thường có lũ lụt với sức nước mạnh, phải dùng hom từ 0,6 - 1 m trồng nằm để sau này mỗi hom sẽ có 3 - 4 bụi giằng nhau tránh được lốc gốc do nước lũ.
Vùng đất cát bồi, bãi biển có tầng cát dầy, hom phải dài sao cho mặt cắt của gốc hom tiếp xúc tới tầng đất dưới lớp cát (có lúc phải cắm nguyên cây).
16. Hom chặt xong nên xử lý kích thích ra rễ bằng cách ngâm gốc hom vào dung dịch BFC - 201 nồng độ 0,1% qua một đêm. Cách đơn giản nhất là dùng gạch hoặc các thanh gỗ cao 10 cm vây thành bờ hình chữ nhật. Trải ni lông vào trong sao cho mép ni lông cao bằng mép bờ gỗ hoặc gạch để giữ dung dịch xử lý. Xếp đứng hom vào rồi đổ dung dịch xử lý ngập 1/4 hom.
17. Hom sau khi xử lý phải đem trồng luôn. Trường hợp trồng không kịp, phải xếp hom vào các hố cạn theo chiều gốc đến ngọn, dưới đáy hố chứa cát ẩm ngập hết mặt cắt của hom, phía trên phải được che kín bằng lá tươi hoặc bao tải ẩm. Hố bảo quản hom phải làm ở nơi râm mát.
18. Dùng thúng hoặc rổ để đem hom đi trồng. Mỗi người cắm hom phải có một đoạn thước chuẩn để cắm đúng mật độ. Hom phải được cắm thẳng hàng và nếu cắm nghiêng, phải nghiêng về một phía. ở vùng đất bãi hoặc trồng vào vụ trước mùa mưa, hom phải cắm xiên tạo với mặt ruộng một góc 40-45 độ, ở vùng đất đồi hoặc trồng vào cuối mùa mưa, hom phải cắm đứng.
Luôn luôn chú ý cắm hom xuống dưới. Có thể cắm ngập đến gốc mầm trên cùng hoặc ngập đến vết cắt phía trên của hom.
19. Hàng cách giữa các hom từ 30-50 cm tuỳ giống dâu phân cành ít hoặc nhiều và tuỳ đầt xấu hoặc tốt. Với mật độ cây như vậy, nếu:
- Hàng cách hàng là 1 m, lượng hom cần cho 1 ha: 33.500 - 20.000.
- Hàng cách hàng 1,2 m, lượng hom cần cho 1ha: 27.000 - 16.700.
- Hàng cách hàng 1,5 m, lượng hom cần cho 1 ha: 22.300 - 13.400.
Khi lượng hom phong phú hơn, mỗi bụi có thể cắm 2 hom và tổng số hom cho 1 ha sẽ tăng gấp đôi.
III. Chăm sóc và quản lý ruộng dâu năm thứ nhất
20. Sau trồng, khi ruộng hom đã nẩy mầm đều, phải phun hỗn hợp các chất: BFC - 201 - 1.200 (40cc cho một bình 8 lít) + Bi 58 - 0,2% (16 cc cho một bình 8 lít) với lượng 200 lít dung dịch đã pha cho một ha để phòng rầy, phòng bệnh, tăng cường dinh dưỡng cho mầm và kích thích bộ rễ phát trển. Phun thuốc vào chiều mát, không mưa và phải đảm bảo phòng hộ lúc sử dụng thuốc.
21. Sau trồng 35-40 ngày, khi chồi đã cao, hom đã có rễ, phải làm cỏ giữa hàng và nhổ cỏ gốc cho dâu. Khi làm cỏ, tuyệt đối không làm lay động thân hom để tránh đứt rễ non chết cây con. Lúc này cũng phải trồng dậm nơi các hom bị chết.
22. Khi cây dâu cao khoảng 35-40 cm, phải làm cỏ, bón thúc và tỉa chồi định hình cho cây.
Bón thúc cho cây nên dùng phân tổng hợp NPK chuyên cho cây dâu với lượng 120-200 kg/ha. Cũng có thể dùng phân Komix với lượng tương đương. Phân thúc phải bón theo gốc, cuốc đến đâu, bỏ phân đến đó, bỏ phân đến đâu, lấp đất đến đó.
Trong điều kiện khô hạn, không được bón thúc phân hóa học vào đất. Trường hợp này, phải phun BFC - 201 nồng độ 1:200, lượng 350-400 lít đã pha cho một ha vào lúc chiều mát.
23. Khi tỉa chồi định hình, phải tỉa bỏ hết các chồi bệnh, chồi quá yếu, chỉ chừa lại trên mỗi cây 3-4 chồi khoẻ, mọc cân đối. Không được dùng tay tước chồi mà phải dùng dao, liềm thật sắc hoặc kéo cắt cành sát gốc chồi, tránh làm xước vỏ hom.
24. Trong trường hợp dâu bị trâu bò ăn, nếu lúc cây còn nhỏ phải nhổ trồng lại, nếu dâu đã lớn phải cắt bỏ các vết dập thân do trâu bò gây ra.
25. Sau khi trồng 6-8 tháng, nếu dâu sinh trưởng tốt có thể thu hoạch lá để nuôi tằm. Ruộng dâu năm thứ nhất khi hái phải chừa 10 lá trên cây.
Phải luôn luôn ghi nhớ rằng: ngay cả ruộng dâu sinh trưởng rất tốt cũng không được thu hoạch lá trước 6 tháng kể từ khi trồng.
IV. Chăm sóc và quản lý vườn dâu năm thứ hai
26. Vườn dâu sau trồng một năm và cứ hàng năm sau đó phải đốn tạo hình và làm trẻ lại cho dâu:
- Dâu năm thứ nhât: Đốn cao hơn mặt đất 10 -15 cm.
- Dâu các năm sau: Đốn cao hơn vết đốn năm trước 5 cm.
Cứ 4-5 năm, đốn sát một lần (đốn loại bỏ toàn bộ từ phần thân cấp I trở đi).
27. Thời vụ đốn dâu tốt nhất từ tháng 9 -12. Khi đốn dâu vào tháng 5-7 cần phải lưu ý phòng bệnh gỉ sắt cho dâu (đặc biệt ở Lâm Đồng). Tại các tỉnh phía Nam , những nơi chủ động nước tưới có thể đốn dâu bất cứ tháng nào trong năm. Các tỉnh phía Bắc đốn vào tháng 11-12 và đầu tháng 5. Những vùng cây dâu sinh trưởng tốt, chủ động nước, nên đốn dâu cách nhau 8 tháng 1 lần.
28. Tốt nhất dùng máy động cơ đeo vai có lưỡi cưa sắc để đốn. Cũng có thể đốn bằng dao, rựa thật sắc. Bất cứ đốn bằng công cụ gì cũng cần đảm bảo không làm nứt, dập gốc cây chừa lại.
29. Sau khi đốn, phải thu gom cây dâu ra khỏi lô trước khi mầm dâu trên thân nẩy chồi,
- Thu riêng hom đủ tiêu chuẩn làm giống để trồng hoặc bán.
- Số hom còn lại nên phơi khô làm củi. Trường hợp cây bị bệnh gỉ sắt, dán cao quá nhiều phải đốt bỏ, không được dùng các loại cây này làm bờ rào.
Cùng với việc thu gom thân cây, phải tỉa bỏ cành tăm, cành lá còn sót lại trên gốc dâu, kết hợp làm cỏ gốc và cây giữa hàng.
30. Sau khi làm cỏ phải bón phân hữu cơ cho dâu. Có thể bón phân trâu bò hoặc phân heo với lượng 10-20 m 3với 300 - 500 kg Super lân cho 1 ha. Tốt nhất nên bón theo gốc. Cuốc hố nhỏ cạnh gốc dâu, cho phân vào rồi lấp đất. Cùng với việc bón phân, nên vun đất vào gốc dâu thành vòng để giữ ẩm cho gốc. Không được vun phủ kín vết đốn.
31. Sau đốn 15 - 20 ngày, lúc dâu nẩy chồi đều, phải phun thuốc bảo vệ chồi non và bổ sung dinh dưỡng cho cây như ở điều 20.
Sau đốn 35 - 40 ngày, phải tiến hành tỉa định chồi: Mỗi bụi để lại 5-8 chồi tốt, mọc cân đối. Những chồi loại bỏ có lá tốt có thể dùng để nuôi tằm. Cách tỉa chồi như ở điều 23.
Thời gian này nếu cây dâu sinh trưởng yếu, vàng, phải tiến hành bón thúc phân vô cơ cho dâu như ở điều 22.
32. Sau đốn 2 tháng, nếu dâu sinh trưởng bình thường, có thể bắt đầu nuôi tằm.
- Dâu năm thứ 2 nên nuôi 5-6 lứa tằm.
- Dâu năm thứ 3 nuôi 7-8 lứa tằm.
- Dâu đã thuần thục, mỗi ha có thể nuôi 30-40 hộp trứng 12 g (tương đương 20 hộp trứng 20g) một năm.
33. Khi thu hoạch lá dâu cho tằm tuổi nhỏ (đặc biệt cho tằm tuổi 1, tuổi 2) phải dùng móng tay bấm đứt ngang cuống. Không được tước gốc lá để tránh gẫy đọt non của dâu.
34. Các lứa thu hoạch cách nhau 25-40 ngày tuỳ theo mùa. Lúc hái dâu, phải rửa tay sạch. Nên có quần áo mặc riêng cho hái dâu và riêng cho chăm sóc tằm.
Mùa khô không được hái dâu vào lúc còn ướt sương hoặc vào lúc nắng gắt; mùa mưa phải tranh thủ hái dâu vào lúc tạnh ráo.
Lá dâu tằm con phải bảo quản trong túi ni long lúc hái; lá dâu tằm lớn nên đựng bằng gùi,
35. Khi hái dâu tằm lớn, cần nắm theo từng nắm lớn rồi xếp thành từng lớp vào gùi để tránh dập nát lá. Khi đã hái đầy gùi phải đem về rải ngay vào phòng bảo quản dâu, xóc đều và dàn hàng lớp mỏng hoặc thành luống nhỏ. Đậy lá dâu bằng ni lông.
36. Trong mùa mưa, nếu dâu bị ướt, nên rải mỏng lên các cũi bằng lưới mắt cáo, đặt ngoài hè hong khô rồi mới đem vào phòng bảo quản hoặc cho tằm ăn.
Trường hợp lá dâu bị bẩn bởi đất bụi hoặc phù sa, sau khi hái phải rửa sạch rồi hong khô như trên.
37. Trong mùa lá dâu bị bệnh bạc thau, lúc nuôi tằm lớn nên tiến hành hái nâng: Hái mỗi cây 2-3 lá, tiếp tục hái hết khắp ruộng dâu. Không hái hết một số hàng này rồi sang số hàng khác như những lúc không bị bệnh.
38. Trong quá trình nuôi tằm, phải giữ cho ruộng dâu sạch cỏ. Vào các tháng mùa khô cỏ ít, cách một tháng làm cỏ một lần. Vào các tháng mưa, cỏ nhiều, mỗi tháng làm cỏ một lần. Cứ cách 2 đến 3 tháng, dùng trâu bò hoặc máy cày nhỏ cày giữa hàng một lần.
39. Cứ sau mỗi lần hái, phải bón thúc cho dâu như đã nêu ở điều 2. Cũng có thể sử dụng phân N, P, K riêng lẻ. Trường hợp đất đủ lân, mỗi năm cần 350-400kg Urê, 300-400 Super lân 270-300kg Kali; trên các triền đất thiếu lân, lượng Super lân cao hơn (từ 800 -1.000kg/ha/năm).
40. Có thể phun BFC-201 nồng độ 1:200, lượng 400-500 lít/ha sau các lứa hái thay cho bón thúc. Trong quá trình thu hoạch, nếu dâu bị rầy hoặc bệnh phải pha vào BFC-201 thuốc Bi 58-0,2% và Polysulfua Calci-0,3%. Sau khi phun 7-10 ngày có thể sử dụng lá để nuôi tằm.
41. Các tỉnh từ Bình Định trở ra, trước khi băng vụ tằm xuân từ 45 đến 30 ngày phải phun hỗn hợp thuốc DDT-0,2% và Polysunfua Calci-0,3% cho dâu và cây trồng xen cũng như cây trồng khác trên đồng ruộng, trong vườn để trừ sâu là ký chủ phụ của bệnh vôi và trừ trước bào tử nấm vôi ngoài đồng ruộng.
Phun hai lần cách nhau 15 ngày. Lần sau phải xong trước lúc băng tằm 20 ngày.
42. Ở giai đoạn cuối sinh trưởng của cây, nếu chưa đốn, muốn tiếp tục lấy cành lá nuôi tằm, có thể tiến hành gum cây: cây dâu đã hái hết lá được uốn cong và cột lại một phía sao cho một phía mầm ngủ hướng lên trên. Các mầm ngủ này sẽ nẩy chồi đâm cành. Khi cành thuần thục dùng dâu cành để nuôi tằm.
Sau khi thu hoạch đợt cành thứ nhất, gum ngược cây trở lại hướng khác cho mầm ngủ phía dưới lên trên để lấy đợt cành thứ hai.
43. Cũng có thể dùng biện pháp đốn phớt thay cho gum dâu: Cây dâu sau khi được hái sạch lá, được đốn bỏ phần ngọn còn xanh trên cao. Hầu hết các phần ngủ sẽ nẩy chồi đâm cành. Sau khi sử dụng các cành dưới, có thể chừa lại 2-3 cành trên, chăm sóc tốt để hái lá.
Cũng như gum dâu, việc đốn phớt phải tăng cường phân bón và phòng trừ sâu bệnh cho cây dâu. Dâu đã gum hoặc đốn phớt không dùng làm hom giống.
44. Khi thu hoạch dâu cành, tốt nhất dùng kéo cắt cành để cắt. Nếu không có kéo phải dùng dao, liềm sắc để cắt. Không được tước cành bằng tay làm xước vỏ cây.
V. Trồng xen trong ruộng dâu, cơ cấu cây trồng
45. Chỉ nên trồng xen cây họ đậu không leo hoặc không cao quá vào trong ruộng dâu, không trồng xen bắp và tuyệt đối không được trồng xen thuốc lá vào dâu. Các vùng bị bệnh vôi nặng không nên trồng xen.
Những vùng chuyên trồng xen trong dâu bằng cây họ đậu không nên trồng sát gốc dâu để có đường hái dâu. Những nơi mật độ dâu dầy, muốn trồng xen thì cứ cách một rãnh, trồng xen một rãnh.
46. Các vùng trồng dâu nuôi tằm, không nên quy hoạch thuốc lá vào cơ cấu cây trồng của mình.
Nếu có quy hoạch thuốc lá phải lưu ý:
- Khu thuốc lá phải xa khu vực dâu và ở cuối nguồn nước, cuối hướng gió.
- Các ruộng thuốc lá dùng lấy hạt giống lúc sắp trổ hoa phải bao bọc chùy hoa bằng túi ni lông để tránh phấn hoa bay qua lá dâu.
- Các ruộng thuốc lá làm nguyên liệu cần phải cắt bỏ chùy nụ hoa trước khi chúng nở.
- Ruộng đã trồng thuốc lá phải trồng lúa nước một năm hoặc cây trồng cạn khác hai năm mới được trồng dâu.
Nguồn: Thông tin khoa học, công nghệ Lâm Đồng, số 1.1993

Ở nước ta, tính đến 30.6.1992, diện tích dâu đã đạt tới 28.100 ha. Sự phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm ở nước ta trong những năm gần đây hết sức nhanh chóng. Người trồng dâu nuôi tằm ở nhiều cơ sở quốc doanh cũng như nhiều địa phương chưa được trang bị các kiến thức cần thiết của nghề phức tạp và hết sức kỹ thuật này. Mặc dầu nghề trồng dâu nuôi tằm đang đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, tuy nhiên do chưa nắm vũng kỹ thuật nên năng suất kén chưa cao, chất lượng kén chưa tốt. 






