Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 22/11/2005 14:56 (GMT+7)

Khoa học-công nghệ VN: Có cải tổ... nhưng chưa đột phá lớn!

- Thưa GS, theo báo cáo “Phát triển con người năm 2004” của UNDP, số người làm R&D (nghiên cứu và phát triển) của VN (trên 50.000 người), nhiều hơn gấp 4,7 lần Thái Lan và 5,6 lần Malaysia. Nhưng, theo đánh giá của Viện Thông tin khoa học quốc tế ISI, nếu tính số công trình khoa học-công nghệ trên đầu người hiện nay, VN chỉ mới đạt được trình độ của Thái Lan cách đây 20 năm. GS bình luận gì về những con số trên?

-  GS Hồ Sĩ Thoảng:Tôi không nắm vững số liệu lắm, chỉ nghe qua các báo cáo thôi. Theo tôi, số người làm khoa học của mình rất khó mà nhiều hơn ở các nước bạn. Có thể họ thống kê theo số lượng tiến sĩ (TS), thạc sĩ (Th.S), nhưng số người trực tiếp nghiên cứu khoa học lại ít hơn nhiều. Các trường đại học (ĐH) chiếm khoảng 70% số lượng GS, PGS, TS, Th.S, nhưng theo tôi biết, số công trình nghiên cứu khoa học ở khu vực này không tương xứng với số lượng nhân lực. Còn về công trình khoa học của VN ít hơn, số liệu này chỉ dựa trên thống kê số công trình đăng ở các tạp chí khoa học nước ngoài, trong lúc các nhà khoa học của ta do những lý do khác nhau rất ít công bố công trình ở nước ngoài. Đương nhiên, phải đánh giá thẳng thắn rằng: Trình độ khoa học của ta không cao!

- Cũng theo sách khoa học-công nghệ VN năm 2003, cả nước có 3.600 công trình nghiên cứu khoa học được công bố, trên 7.000 bài báo khoa học đăng tải trong nước. Trong khi đó, chỉ có 400 công trình được đưa ra công bố ở các tạp chí nước ngoài. Ngay cả trong 400 công trình này, chỉ có 1/3 công trình là dùng nguồn nội lực trong nước; còn lại là do hợp tác quốc tế. Chuyện gì đang xảy ra?

 - Có nhiều lý do: Trình độ khoa học và ngoại ngữ. Một lý do khá hiển nhiên là cản ngại ngôn ngữ, nên nhiều nhà khoa học VN không có bài ở các tạp chí KH quốc tế, điều này cũng làm ảnh hưởng tới con số thống kê.

- Thưa GS, chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin, khi nhà khoa học không viết nổi một bài báo bằng tiếng nước ngoài, làm sao cập nhật thông tin khoa học trên Internet và báo chí nước ngoài? Chúng ta chỉ “đóng cửa nhìn nhau” để nghiên cứu thôi sao? Chúng tôi xin lỗi nếu câu hỏi có gay gắt và bức xúc...

- Về ngoại ngữ, nhìn chung, các nhà khoa học VN còn yếu. Đó là điều ai cũng thấy. Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng, phần lớn họ đọc tốt sách báo chuyên môn bằng tiếng Anh. Nhưng để viết một công trình hay nói tiếng Anh cho trôi chảy lại rất khó khăn. Có một thực tế là năng lực hội nhập, giao lưu quốc tế của nhiều nhà khoa học của chúng ta còn rất thấp và yếu.

Tôi đã tham gia ban tổ chức của nhiều hội nghị khoa học quốc tế, thấy nổi cộm 2 vấn đề: Nhà khoa học VN đưa công trình của mình lên diễn đàn quốc tế không đơn giản, vì trở ngại ngoại ngữ. Kinh phí không có nên việc đi dự hội nghị quốc tế cũng hạn chế. Chẳng hạn, Đại hội Hóa học châu Á lần thứ 11 tổ chức tại Seoul tháng 8-2005, VN đăng ký gần 20 báo cáo, nhưng chỉ khoảng 10 người có mặt, phần lớn là đang làm việc ở Hàn Quốc. Vì chi phí máy bay ăn ở quá nặng, họ không lo nổi. Tháng 10-2003, chúng tôi tổ chức Đại hội Hóa học châu Á lần thứ 10 liên kết với Hội nghị Hóa học châu Á-Âu lần thứ 8 tại Hà Nội, có rất nhiều báo cáo của Việt Nam được đánh giá đạt trình độ cao. Đó là nhận xét của các nhà hóa học từ nhiều nước, trong đó có các nhà khoa học được giải Nobel tham dự. Đương nhiên, tôi cũng không phủ nhận có tình trạng hạn chế trong trình độ nghiên cứu khoa học của ta.

  • Phải chăng “cái khó đang bó cái khôn”?

- Xưa “Khổng Tử bỏ nước Lỗ sang nước khác vì vua nước Lỗ không chia thịt cho mình!”. Khổng Tử không lụy miếng ăn, nhưng ông lý luận: Tết, anh không chia thịt cho tôi, có nghĩa là anh không coi trọng tôi. Vậy, thưa GS, nhà khoa học VN nghèo do không được coi trọng đúng mức? Do đất nước nghèo hay do cơ chế? Và phải chăng, chính cái nghèo đã dẫn đến hệ quả năng lực giao lưu quốc tế của nhà khoa học bị hạn chế?

- Đúng là cuộc sống nhà khoa học còn rất thấp. Chỉ hưởng lương thì không đủ sống và mọi người phải tìm cách làm gì đó để sống. Đó là một nghịch lý xã hội. Rõ ràng nguồn lực kinh tế của chúng ta không đến nỗi thấp như kiểu trả lương hiện nay; vì lương thấp mà ai cũng sống được, tức là cách phân bổ nguồn lực trong xã hội đã không đi theo con đường chính thống của nhà nước. Đây là vấn đề khá đau đầu mà Chính phủ và Quốc hội đang phải giải quyết. Giới hạn trong giáo dục-khoa học, các nhà khoa học và nhà giáo đều phải tìm cách có thêm nguồn thu thông qua: dạy thêm, ký hợp đồng nghiên cứu với doanh nghiệp, bán sản phẩm hay quy trình... một cách chính đáng nhưng không chính thống. Hợp đồng giữa nhà khoa học và doanh nghiệp mang lại lợi ích cho cả đôi bên. Nhưng, tôi cho rằng nhiều khi đấy không phải là con đường tối ưu cho nhà khoa học, nó góp phần hạn chế sức sáng tạo của nhà khoa học. Vì, nền sản xuất của ta còn thấp, việc nghiên cứu triển khai những công nghệ dưới tầm làm nhà khoa học bị kéo lùi lại.

- Trong một công trình nghiên cứu, GS Hoàng Anh Tuấn, nguyên Giám đốc Sở Khoa học-Công nghệ TP.HCM đã đưa ra nhận định: “Vì thu nhập không đủ sống, cán bộ nghiên cứu phải chạy kiếm sống, tất yếu dẫn đến chảy máu chất xám hoặc “teo não” đã và đang diễn ra!”...

-Ai cũng thấy ray rứt cả. Đây là một vấn đề cần phải được giải quyết một cách căn cơ. Chúng ta chỉ mới du nhập, bắt chước công nghệ nước ngoài chứ chưa đạt tới trình độ sáng tạo...

- Thưa GS, cái nghèo vật chất sẽ ảnh hưởng phần nào đến cái nghèo tri thức. Điều này có liên quan gì đến ý kiến sau đây của TS Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt và là chuyên gia Tổ chức Năng lượng nguyên tử quốc tế: “Tình trạng của chúng ta hiện nay phần lớn là tìm cách du nhập, bắt chước và bản địa hóa các công nghệ đã có ở các nước tiên tiến, chứ chưa đạt tới trình độ sáng tạo ra công nghệ mới”?

- Để đánh giá cả một nền khoa học không đơn giản. Vì trong một số lĩnh vực sáng tạo khoa học-công nghệ của VN không phải là ít, tuy không phổ biến. Chẳng hạn, ngành Toán và Vật lý lý thuyết trình độ của cán bộ khoa học chúng ta có thể coi là ngang tầm thế giới, hoặc ít nhất là không kém trong khu vực. Còn nói về chủ trương du nhập và bản địa hóa khoa học-công nghệ, thì đó cũng là chủ trương của nhà nước trong giai đoạn hiện nay, vì nền sản xuất cũng như trình độ công nghệ của chúng ta còn ở rất xa so với thế giới. Cái cần quan tâm: du nhập công nghệ một cách sáng tạo và tạo giá trị gia tăng tốt.

- Thưa GS, nói đến sự phát triển của nền khoa học-công nghệ VN mà chỉ quẩn quanh chuyện đời sống sẽ là một thiếu sót lớn, nếu không đề cập đến vấn đề cơ chế quản lý. Là Phó Chủ tịch Hội đồng Chính sách KH-CN quốc gia, GS có nghe tiếng kêu từ cơ sở: Các quyết định tài chính cho các công trình, dự án được thực hiện ở cấp TƯ và phân bổ các quỹ được coi là mang tính tùy tiện, không rõ ràng, phức tạp, cứng nhắc và quan liêu?

- Nói một cách công bằng, việc phân bổ ngân sách nhà nước cho các nhà khoa học mấy năm nay đã có nhiều tiến bộ: Không phân bổ ngân sách khoa học theo đầu người, theo cơ sở một cách tùy tiện, mà cho đấu thầu công khai.

Nhà khoa học được chủ động hơn trước nhiều trong điều hành kinh phí nghiên cứu mà mình được cấp. Quy trình tuyển chọn đại thể được tuân theo thứ tự sau: Bộ Khoa học-Công nghệ thành lập một hội đồng lựa chọn những vấn đề, đề tài nghiên cứu khoa học do các cơ sở và nhà khoa học đề xuất; sau đó Hội đồng trình cho Bộ Khoa học-Công nghệ xem xét và công bố danh sách những vấn đề, đề tài theo thứ tự ưu tiên. Các viện NC, trường ĐH tùy năng lực mà đăng ký dự thầu. Bộ Khoa học-Công nghệ lập một hội đồng để phân tích, đánh giá và tuyển chọn. Cuối cùng Bộ trưởng mới quyết định cấp tiền.

 - GS có nghĩ rằng, quy trình đấu thầu chặt chẽ là vậy, nhưng có lúc “con lạc đà lại chui qua được lỗ kim” không?

- Ý tưởng tốt, chủ trương đúng. Thế nhưng thực hiện cũng không đơn giản. Phản ảnh chung là chưa thật tốt. Có thể vẫn còn có chỗ không công bằng. Không loại trừ có những lựa chọn và quyết định thiếu xác thực, đẩy một số viện, trường yếu thế vào tình trạng khó khăn. Chỉ có thể hạn chế, chứ chưa triệt tiêu được những trục trặc trong khi thực hiện, kể cả tiêu cực. Ngay như việc xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, chủ trương đúng, thế giới cũng làm rồi. Theo phản ánh của các nhà khoa học, cũng có nhiều vấn đề. Vấn đề nổi cộm nhất là chủ nghĩa cát cứ còn rất nặng trong bản thân nhà khoa học. Rất có thể, nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm trở thành một phòng của riêng đơn vị đó thôi. Đó là những trục trặc theo tôi là phải xử lý.

- Hiện nay, nhiều cán bộ nghiên cứu khoa học rất bức xúc trước những điều mà họ cho rằng: Cơ chế, chính sách quản lý khoa học đang ép họ vào một khuôn mẫu quá chật hẹp. Cụ thể: Thời gian nghiên cứu quá ngắn, đánh giá công trình theo số lượng trang viết, việc làm ngoài dự toán bị xuất toán, phải có hóa đơn đỏ, phải theo các định mức chi li và rất thấp… Họ kêu vậy đúng không?

- Đúng thì vẫn đúng, nhưng đánh giá cũng phải công bằng và toàn diện. Phải xem xét lại hết cung cách quản lý từ cấp tỉnh, thành đến Bộ Khoa học-Công nghệ và Bộ Tài Chính. Giữa những cơ quan quản lý này còn nhiều ràng buộc lẫn nhau, dẫn đến trì trệ chung. Nhiều khi lỗi của anh này lại bắt nguồn từ nguyên nhân ở anh kia. Rồi anh này đổ lỗi cho anh kia. Bộ Tài Chính có cái lý của họ, nhiều khi tôi cũng không hiểu vì sao. Ví dụ: Cán bộ đi công tác, Bộ Tài Chính quy định tiền ở khách sạn là 90.000 đồng/ngày, nhưng thực tế chẳng nơi đâu có giá đó cả. Rất nhiều chính sách của mình đi sau thực tế. Có những trì trệ khó khăn phải gỡ dần.

- Thưa GS, thời gian để “gỡ dần” trì trệ dự trù kéo dài bao lâu? Thực tế cuộc sống lại đang diễn biến từng ngày và ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu của nhà khoa học.

- Theo tôi hiểu, ở cấp quản lý vĩ mô đang rất cố gắng cụ thể hóa Nghị quyết của Trung ương Đảng về khoa học-công nghệ.

“Sẽ cải tổ về cơ chế, chính sách, song chưa có đột phá lớn!”

 - Nghị quyết TƯ 6 khóa 9 đã chỉ rõ: Công tác quản lý khoa học-công nghệ là một trong những khâu yếu nhất. Bộ Khoa học-Công nghệ có động thái cải tổ gì lớn không?

- Bộ Khoa học-Công nghệ đang làm nhiều việc để cụ thể hóa Nghị quyết: Chiến lược Khoa học-Công nghệ 2005-2010 đã được bộ chuẩn bị xong và Chính phủ cũng đã phê duyệt. Nghị định của Chính phủ về cơ chế quản lý khoa học cũng vừa mới ra. Hiện nay, hội đồng của chúng tôi cũng đang thảo luận chuẩn bị cho chủ trương phân cấp quản lý khoa học-công nghệ về cơ sở. Rồi xây dựng các chương trình phát triển khoa học-công nghệ, cách thức đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học-công nghệ, thành lập Quỹ hỗ trợ khoa học-công nghệ, xây dựng và trình Luật Sở hữu trí tuệ… Song, phải thừa nhận, những cố gắng ấy chưa mang lại kết quả như mong đợi. Điều này chẳng ai mong muốn cả. Nhưng làm thế nào để tốt hơn, đó là vấn đề hết sức khó khăn.

- Nguyên nhân?

 - Theo tôi, nguyên nhân thì rất nhiều. Ai cũng có thể tìm ra một số nguyên nhân để lý giải cho sự trì trệ. Nhưng, có một nguyên nhân rất quan trọng là: Thực tế của nền sản xuất VN còn quá thấp, phần lớn các doanh nghiệp (nhà nước) đòi hỏi đối với khoa học-công nghệ chưa thật bức bách. Chính vì còn khó khăn để tìm con đường đi vào sản xuất nên nhà khoa học mệt mỏi.

- Thưa GS, các doanh nghiệp của chúng ta vẫn phải du nhập công nghệ hiện đại của nước ngoài đấy chứ?

 - Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước (còn được bảo hộ khá nặng) không mặn mòi lắm với khoa học-công nghệ trong nước bởi nhiều lý do. Vì khi đầu tư thử nghiệm công nghệ mới nào của VN cũng có thể gặp rủi ro. Còn mua của nước ngoài có thể đắt hơn, nhưng ít rủi ro, chưa kể có thể có yếu tố tiêu cực. Xin lưu ý rằng, nghiên cứu triển khai là khâu rất tốn kém, mà thiếu nó thì độ rủi ro trong áp dụng thành tựu khoa học-công nghệ rất cao.

- Chúng tôi cũng đồng ý rằng nền sản xuất của chúng ta thấp, ảnh hưởng tới khoa học-công nghệ. Song, nếu doanh nghiệp nào cần tới khoa học-công nghệ thì cũng phải tính tới việc lấy hiệu quả làm đầu. Họ không thể làm chính sách thay nhà nước được.

- Tôi hoàn toàn không đổ cho nền sản xuất, cũng như không muốn nói là mọi thứ đều tốt đẹp. Mà phải bình tĩnh gỡ từ từ. Cả trên và dưới cùng gỡ. Tôi hy vọng rằng với quy chế phân cấp sắp ban hành, chắc chắn các địa phương được cởi mở hơn nhiều. Song, cũng phải hiểu rằng tất cả những nỗ lực trên chưa phải là bước đột phá gì ghê gớm. Căn bản nhất là kinh phí nghiên cứu khoa học và đời sống nhà khoa học sẽ vẫn còn đặt ra nhiều thách thức.

- “Có thực mới vực được đạo”, thưa GS, tức là chúng ta vẫn chưa thể nói đến một cuộc cách mạng lớn trong việc vực dậy một nền khoa học-công nghệ? Mọi chuyện cải tổ vẫn chậm rãi theo một lề thói định sẵn. Vậy ông dự liệu bao giờ khoa học-công nghệ VN cất cánh?

- Đây là câu hỏi cực kỳ khó. Trong hoàn cảnh như hiện nay, chúng ta không thể tăng kinh phí nhanh được. Mới chỉ có 2% ngân sách, rất nhỏ so với các nước. Khu vực doanh nghiệp, cả quốc doanh và ngoài quốc doanh, chưa đóng góp được bao nhiêu cho nghiên cứu phát triển khoa học-công nghệ. Việc đầu tiên và quan trọng là đổi mới cho được công tác tổ chức và quản lý khoa học. Phải làm sao để phát huy tối đa tiềm lực con người, tài chính hiện có. Chọn cho được những trọng tâm để đầu tư là một thách thức hết sức lớn của các cấp có quyền lực trong hoạch định chính sách khoa học-công nghệ.

- Xin cám ơn GS

Nguồn: vnn.vn  17/11/2005

Chúng ta chỉ mới du nhập, bắt chước công nghệ nước ngoài chứ chưa đạt tới trình độ sáng tạo... Trong ảnh: Bộ trưởng Bộ Khoa học-Công nghệ Hoàng Văn Phong đang trao tặng bằng khen cho các đơn vị tham gia Chợ Công nghệ Techmart VN 2005

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.
Phụ nữ VUSTA: Tự tin tỏa sáng và làm chủ hạnh phúc
Sáng ngày 20/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức đã tổ chức Chương trình chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10. Sự kiện là dịp tôn vinh nét đẹp của đội ngũ nữ cán bộ, người lao động VUSTA, đồng thời lan tỏa những thông điệp truyền cảm hứng về hành trình tự tin, hạnh phúc của phụ nữ.