Khả năng tiêu hoá của lợn ngoại thương phẩm sau cai sữa nuôi bằng khẩu phần có mức protein thấp được cân đối axit amin và bổ sung men tiêu hoá
1. Mở đầu
Sau khi cai sữa, lợn con sinh trưởng rất nhanh vì vậy cần nguồn dinh dưỡng rất cao, đặc biệt là protein và axit amin. Một trong những giải pháp được nhiều người chăn nuôi áp dụng là tăng tỷ lệ protein trong thức ăn hỗn hợp để đáp ứng yêu cầu của lợn con. Tuy nhiên, khi đó họ lại vấp phải một trở ngại khác là lợn con thường bị tiêu chảy do khả năng tiêu hoá có hạn. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng, mặc dù cơ quan tiêu hoá của lợn giai đoạn này phát triển nhanh nhưng khả năng tiêu hoá vẫn còn hạn chế dẫn đến nguy cơ tiêu chảy rất cao do thức ăn không được tiêu hoá hết, tạo điều kiện cho vi sinh vật có hại phát triển.
Để giải quyết tình trạng này, nhiền nghiên cứu đã được triển khai và thu được kết quả tốt như sử dụng kháng sinh ở liều lượng thấp, sử dụng axit hữu cơ, enzym và bổ sung probiotic vào thức ăn (Jan, 2005: Collinder và cs. 2000: Trần Quốc Việt và cs. 2006; Hồ Trung Thông và cs. 2008…).
Đối với lợn con sau cai sữa, ngoài việc sử dụng thức ăn có tỷ lệ protein thô thấp được cân đối axit amin thiết yếu, thì việc bổ sung các enzyme tiêu hoá sẽ có tác dụng hỗ trợ quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng của lợn. Vì những lý do đó, chúng tôi tiến hành đề tài nhằm xác định khả năng tiêu hoá protein và tinh bột của lợn con đối với các khẩu phần có mức protein thấp được cân đối một số axit amin thiết yếu khi được bổ sung men tiêu hoá protease và amylase.
2. Phương pháp
Thí nghiệm thử mức tiêu hoá được tiến hành trên 4 lợn đực lai thương phẩm đã thiến, ở giai đoạn cai sữa, có khối lượng bắt đầu thí nghiệm trung bình 7,02kg. Lợn thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô vuông Latin (4 x 4) và nuôi riêng biệt 4 cũi. Sau mỗi đợt lấy mẫu phân, lợn được bố trí ăn khẩu phần tiếp theo, sao cho khi kết thúc thí nghiệm, mỗi lợn đều được ăn đủ cả 4 khẩu phần thí nghiệm.
Khẩu phần thử mức tiêu hoá có cùng mức năng lượng trao đổi (3200 kcal/ kg thức ăn) và các axit amin thiết yếu. Mức một số axit amin thiết yếu cơ bản trong khẩu phần như sau (g/kg thức ăn): Lysine 12,42; threonine 8,07; methionine + cystine 6,83; tryptophan 2,35). Tỷ lệ chất xơ trong khẩu phần đảm bảo đồng đều nhau. Sử dụng chất Cr 2O 3làm chất chỉ thị với liều lượng bổ sung là 5 g/kg thức ăn.
Thí nghiệm được bố trí thành 4 lô: Ba lô thí nghiệm được bố trí theo tứ tự từ lô 1 đến lô 3 có mức protein giảm dần: 20 -19 -18%. Các lô thí nghiệm được bổ sung lượng enzyme protease và amylase giống nhau. Lô đối chứng sử dụng khẩu phần có 20% protein nhưng không bổ sung enzyme tiêu hoá.
Nguyên liệu thức ăn bao gồm ngô, gạo tấm, khô đậu tương; bột cá, bột sữa khử bơ; các axit amin tổng hợp, chất khoáng và premix vitamin. Khẩu phần ăn được xây dựng trên phần mềm OPTIMIX version 4.0. Lượng enzyme bổ sung vào thức ăn là 2000 UI protease và 56 UI amylase/ kg thức ăn.
Thí nghiệm tiến hành trong 35 ngày, được chia làm hai giai đoạn.
Giai đoạn tiền thí nghiệm (kéo dài một tuần) cho lợn ăn cùng loại thức ăn cơ sở, để lợn làm quen với điều kiện thí nghiệm. Lợn được nuôi với khẩu phần ăn tự do, xác định được lượng thức ăn tiêu thụ/ bình quân con/ ngày.
Giai đoạn thí nghiệm (28 ngày): chia làm bốn thời kỳ, mỗi thời kỳ cho ăn khẩu phần như sơ đồ thí nghiệm trong 7 ngày. Sau khi cho ăn khẩu phần thí nghiệm 4 ngày tiến hành thu phân để phân tích. Phân lợn thu triệt để trong ba ngày liên tục bảo quản ở -20 0C, sau đó trộn đều lấy mẫu để phân tích. Trước khi phân tích, phân được sấy khô trên máy đông khô ở -86 0C, sau đó nghiền nhỏ để đảm bảo độ đồng nhất. Lợn được nuôi với lượng khẩu phần bằng 80% lượng ăn tự do (tính theo khối lượng cơ thể), nhằm để cho lợn ăn được hết thức ăn, hạn chế lượng thức ăn dư thừa. Nước uống được cung cấp tự do qua vòi uống tự động.
Mẫu phân thu được sử dụng để phân tích các chỉ tiêu: vật chất khô, protein, tinh bột. Căn cứ vào kết quả phân tích hàm lượng vật chất khô, protein và tinh bột trong thức ăn và trong phân lợn để xác định tỷ lệ tiêu hoá của lợn đối với các thành phần này.
3. Kết quả và thảo luận
3.1 Tỷ lệ tiêu hoá toàn phần biểu kiến của vật chất khô
Kết quả thí nghiệm ở Bảng 1 cho thấy, ở cùng mức protein thô 20% trong khẩu phần, việc bổ sung enzyme có tác động cải thiện tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô (88,08% so với 87,48%) tuy nhiên sự sai khác này chưa có ý nghĩa thống kê (Pα > 0,05). Đối với các khẩu phần có tỷ lệ protein thấp có cân đối axit amin thiết yếu và bổ sung enzyme tiêu hoá, tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô không có sai khác rõ rệt (88,08 -88,28 -88,24%, tương ứng với các lô 1, 2 và 3 (Pα > 0,05). Điều này được khẳng định qua mối tương quan giữa tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô của lợn con và mức protein trong thức ăn ăn vào được diễn tả qua phương trình:
Y = 89,6275 -0,075 x;
R 2= 0,006.
Ở đây: y là tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô của lợn con thí nghiệm (%); x là mức protein thô trong thức ăn (%). Với giá trị R 2thấp như vậy, tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô toàn phần không thay đổi khi giảm tỷ lệ protein trong khẩu phần.
3.2 Tỷ lệ tiêu hoá toàn phần biểu kiến của nitơ
Kết quả thí nghiệm tại bảng 2 cho thấy, cùng mức protein trong khẩu phần, khi bổ sung enzyme tiêu hoá đã cải thiện được một phần tỷ lệ tiêu hoá protein của lợn con (từ 86,91% lên 87,59% tương ứng lô ĐC và lô 1), tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (Pα > 0,05). Khi sử dụng khẩu phần có tỷ lệ protein thấp và bổ sung enzyme, tỷ lệ tiêu hoá toàn phần protein không có sự sai khác (87,59 -87,24 -86,84%, tương ứng với lô 1, 2 và 3; Pα > 0,05). Tuy nhiên, khi phân tích mối tương quan giữa tỷ lệ tiêu hoá nitơ của lợn con và mức protein trong thức ăn ăn vào (y = 79,3896 + 0,4413x; với y là tỷ lệ tiêu hoá nitơ của lợn con (%); x là mức protein trong thức ăn (%)) chúng ta thấy với hệ số tương quan không lớn (R 2= 0,106) chứng tỏ việc giảm tỷ lệ protein thô trong thức ăn nhưng có bổ sung thêm enzyme đã không ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ tiêu hoá nitơ của lợn.
3.3 Tỷ lệ tiêu hoá toàn phần biểu hiến của tinh bột
Tinh bột chiếm một tỷ lệ lớn trong thức ăn và tỷ lệ tiêu hoá tinh bột có ý nghĩa lớn trong quá trình tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng của lợn con. Kết quả bảng 3 cho thấy, tỷ lệ tiêu hoá tinh bột đã tăng lên khi bổ sung thêm men amilasa vào khẩu phần (78,22 -79,99% tướng ứng với lô ĐC và lô 1). Mặc dù sự khác nhau này chưa có ý nghĩa thống kê (Pα > 0,05), nhưng cũng cho thấy hiệu quả của enzyme bổ sung đối với tiêu hoá tinh bột của lợn con. Khi giảm mức protein thô của thức ăn, đồng nghĩa với việc tăng tỷ lệ tinh bột trong thức ăn cho lợn con thì tỷ lệ tiêu hoá tinh bột có xu hướng giảm đi (từ 79,99 -79,59 -78,89% tương ứng với lô 1, 2 và 3). Tuy nhiên mức độ sai khác giữa các lô không có ý nghĩa thống kê (Pα > 0,05). Khi phân tích mối tương quan giữa tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của lợn con (y) và mức protein trong thức ăn ăn vào (x) (phương trình hồi quy của y = 89,6375 -0,075x) chúng ta thấy R 2= 0,014, chứng tỏ không có ảnh hưởng của việc giảm mức protein thô trong thức ăn đến tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của lợn con. Điều này gợi mở khả năng giảm mức protein trong thức ăn có cân bằng các axit amin thiết yếu và được bổ sung enzyme tiêu hoá trong chăn nuôi lợn con sau cai sữa.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về sử dụng enzyme tiêu hoá cho lợn ở các độ tuổi khác nhau cho thấy việc sử dụng enzyme tiêu hoá chỉ có tác dụng đối với lợn nhỏ, đặc biệt đối với lợn con giai đoạn sau cai sữa (Officer, 2000; Nguyễn Thị Tiết và Ngô Kế Sương, 2002; Đỗ Văn Quang và Nguyễn Văn Hùng, 2005) nhưng không có kết quả rõ rệt đối với lợn lớn (Hồ Trung Thông và Đặng Văn hồng, 2008). Điều này cho thấy, ở lợn sau cai sữa cần phải bổ sung enzyme tiêu hoá đặc biệt trong việc giảm tỷ lệ protein để giảm tình trạng mắc bệnh tiêu chảy của lợn. Việc giảm tỷ lệ protein trong thức ăn mà vẫn giữ nguyên mức năng lượng đã phần nào gây nên “sự mất cân đối” về tỷ lệ protein và năng lượng trao đổi, nhưng sự mất cân đối này đã được bù đắp bằng việc cân bằng axit amin thiết yếu và bổ sung các enzyme tiêu hoá.
Kết luận
Sử dụng enzyme tiêu hoá có tác dụng cải thiện khả năng tiêu hoá vật chất khô, nitơ và tinh bột của lợn với các thành phần thức ăn chủ yếu là ngô, gạo, khô đậu tương, bột cá, bột sữa… mặc dù sự sai khác chưa có ý nghĩa thống kê (Pα > 0,05). Điều này cho thấy, với việc sử dụng enzyme đã hỗ trợ khả năng tiêu hoá của lợn con giai đoạn sau cai sữa khi được nuôi bằng các khẩu phần giảm protein được cân bằng axit amin. Đây là một giải pháp hỗ trợ cho việc sử dụng thức ăn hỗn hợp giảm mức protein thô có cân bằng axit amin thiết yếu cho lợn con nhằm hạn chế khả năng tiêu chảy, nâng cao khả năng sinh trưởng và góp phần tiết kiệm thức ăn đạm.
Tài liệu tham khảo
1. Collinder, E., Beger, G. N., Cardona, M. E., Norin, S., Stem S. and Miidvedt, T. 2000. Additive to piglets, probiotic or prebiotic. In proceeding of the 16 thInt’l Pig Veterinary Society Congress, Mellbourne. Australia . 17 - 20 Sep. 2000. P. 257.
2. Jan D. 2005. Probiotic in Animal Nutrition. Booklet. www.Fefana.org.
3. Officer D. L. 2000, Feeds enzymes. In: D’ Mello J. P. F (ed): Farm animal metabolism and nutrition. CABI Publishing. Wallingford Oxon, p. 405 - 426.
4. Nguyễn Thị Tiết, Ngô Kế Sương, 2000. So sánh khả năng tiêu hoá của chế phẩm enzyme pảnceatin (PCC) với chế phẩm enzyme DPS trên lợn thịt. Tạp chí khoa học kỹ thuật Chăn nuôi số 3 - 2002, tr 7 - 10.
5. Đỗ Văn Quang, Nguyễn Văn Hùng, 2005. Cân bằng dinh dưỡng, áp dụng men sinh học, hỗn hợp axit hữu cơ nhằm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm chất thải ra môi trường trong chăn nuôi lợn. Đặc san khoa học kỹ thuật Thức ăn chăn nuôi số 1 - 2005 (6), tr 26 - 29.
6. Hồ Trung Thông, Đặng Văn Hồng, 2008. Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm enzyme chứa protease, amylase và phytase vào khẩu phần đến tỉ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng của lợn F, (Landrace x Yorkshire). Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn 3 - 2008 (3), tr 36 - 40.
7. Trần Quốc Việt, Bùi Thị Thu Huyền, Dương Văn Hợp, Vũ Thành Lâm, 2006. Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất chế phẩm probiotic dùng trong chăn nuôi lợn và gia cầm. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi 2006.
Bảng 1. Tỷ lệ tiêu hoá toàn phần biểu kiến vật chất khô của lợn con cai sữa được nuôi bằng khẩu phần có mức protein thấp
Bảng 2. Tỷ lệ tiêu hoá toàn phần nitơ của lợn con sau cai sữa được nuôi bằng khẩu phần có mức protein thấp.
Bảng 3. Tỷ lệ tiêu hoá toàn phần tinh bột của lợn con sau cai sữa được nuôi bằng khẩu phần có mức protein thấp.








