Hội chứng sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS)
Virut PRRS có tính hướng đại thực bào (macrophages), nhất là đại thực bào phế nang (alveolar macrophages). Đại thực bào là những tế bào bảo vệ cơ thể, chúng nuốt những vi khuẩn, virut mỗi khi xâm nhập cơ thể động vật rồi giết chết và loại bỏ nó, song với PRRS virut thì chúng lại là tế bào đích. Virut xâm nhiễm cơ thể động vật đi vào các đại thực bào, độc chiếm chúng và nhân lên trong đó, giết chết các loại đại thực bào mở đường cho vi khuẩn, virut xâm nhập vào phổi, gây tổn thương ở phổi. Do đó, ở những trại lợn choai và lợn nuôi thit hiện tượng bội nhiễm thứ phát viêm phổi địa phương (Enzootic pneumonia), Streptococcus suis, Pasteurella multocida, Actinobacillus pleuropneumoniae (APP), Salmonella cholerasuis, Haemophilus parasuis v.v… thì bệnh do PRRS virut càng trở nên nghiêm trọng.
Đặc trưng dịch tễ học của PRRS ở trại lợn nuôi sinh sản
Nói tới dịch PRRS ở lợn nuôi sinh sản là chúng ta nghĩ ngay tới các hiện tượng sảy thai, thai chết, thai gỗ, lợn con sơ sinh yếu ớt, hoặc to không bình thường, hoặc thường giảm số con trong mỗi ổ đẻ do thai bị giết chết khi nái chửa bị nhiễm virut lúc mang thai dưới 35 ngày.
Thực tế có nhiều trại nái bị phơi nhiễm, kiểm tra huyết thanh thấy có kháng thể dương tính với PRRS virut, song trong đàn vẫn không thấy bất kỳ một biểu hiện lâm sàng nào. Qua thực nghiệm cho thấy những nái bị nhiễm virut vào lúc thai được 93 ngày thì sẽ đẻ ra những lợn con bị nhiễm virut nặng. Những nái mẹ này nếu ở lần chửa sau (sau 7 – 8 tháng) cùng với những nái chưa bị nhiễm PRRS virut đều bị phơi nhiễm như nhau thì những nái đầu sinh đẻ bình thường, còn những nái sau bị sẩy thai hoặc có nhiều thai chết hay thai gỗ.
![]() |
Sau đợt dịch đầu tiên, bệnh PRRS kéo dai dẳng trong đàn, nhất là với những trại nuôi lợn con và lợn choai. Với những trại không thực hiện chế độ cùng nhập – cùng xuất (all in – all out) thường có viêm phổi kéo dài, lợn hay chết đột ngột do có các nguồn bội nhiễm. Lúc này, kháng sinh không còn tác dụng chữa bệnh như trước nữa, tỷ lệ chết trong đàn lên tới 15% và hiệu quả sử dụng thức ăn giảm sút. Ở những trại này cho tới 2,5 năm sau dịch, người ta vẫn có thể phân lập được virut từ những lợn cai sữa. Trong những trại này, lợn con được giữ lại để thay đàn và những nái hậu bị đưa thêm vào đàn cho tới vài năm sau dịch vẫn phát hiện huyết thanh dương tính PRRS virut. Điều này cho thấy virut vẫn tiếp tục lưu hành trong các trại lợn cai sữa và lợn choai. Do đó nhiều nhà chuyên môn cho rằng có thể dùng phân và thức ăn xanh vương vãi từ những lợi cai sữa và lợi choai cho những nái hậu bị mới nhập về nuôi cách ly để tạo miễn dịch cho chúng đối với PRRS virut. Những nái già trong các trại này thường có huyết thanh âm tính với PRRS virut.
PRRS virut có khả năng lây nhiễm rất cao, chỉ cần 10 đến 100 hạt virut là đủ để gây nhiễm cho lợn. PRRS virut có thể phân lập từ lợn con sau 35 ngày được tiêm tinh dịch của lợn đực đã nhiễm bệnh. Lợn hậu bị chưa cảm nhiễm virut sau khi được truyền tinh của lợn đực nhiễm bệnh sẽ nhiễm bệnh, bị sốt và sản sinh kháng thể chống PRRS. Những nái hậu bị này sẽ không thụ thai sau phối giống và động dục trở lại sau 21 ngày. Chất lượng tinh của đực giống giảm thấp, giảm khối lượng tinh dịch, tinh trùng dị dạng và hoạt động yếu.
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của PRRS
Ngoài những đặc điểm đặc trưng đã nêu trong phần dịch tễ học của bệnh kể trên, có thể lưu ý tới những biểu hiện lâm sàng dưới đây:
* Đối với nái sinh sản
- Một số nái xuất hiện sảy thai vào giai đoạn chửa cuối (khoảng 1 – 6% trong đàn). Đây là những triệu chứng đầu tiên được ghi nhận. Cũng có một số đẻ sớm vào lúc 4 tuần sau khi có thai, kéo dài triệu chứng động dục giả và chậm động dục sau cai sữa.
- Nái nhiễm bệnh biểu hiện kém ăn, nhiệt độ vào khoảng từ 39 – 40 độ C, một số ho biểu hiện viêm phổi, trạng trái hôn mê cũng được ghi nhận, viêm vú và mất sữa là những triệu chứng quan trọng.
- Tai tím tái hoặc tai xanh có ở 2 – 5% số lợn nhiễm bệnh, và cũng chỉ xuất hiện thời gian ngắn trong vài giờ là hết.
* Với lợn con
Chủ yếu là tiêu chảy phổ biến, sức sống kém và viêm nhiễm đường hô hấp tăng cao.
* Ở lợn đực giống
Có các biểu hiện kém thèm muốn nhảy nái, xuất tinh kém, tỷ lệ thụ thai thấp, số con trong mỗi ổ đẻ ít, thân nhiệt tăng và hôn mê.
* Ở lợn cai sữa và lợn choai
- Nếu lợn có viêm phổi địa phương (dạng xuyễn lợn) nhưng chưa bị nhiễm APP thì ít thấy biểu hiện lâm sàng như kém ăn, ho nhẹ, lông xơ xác. Trường hợp không có viêm phổi địa phương thì nhiều đàn hầu như không thấy biểu hiện lâm sàng.
- Trường hợp chưa khống chế được PRRS lại có viêm phổi địa phương và bội nhiễm APP thì bệnh xuất hiện rõ rệt, viêm phổi đông đặc (consolidating pneumonia) lợn ho, tần số hô hấp tăng, chảy nước mũi, dỉ mắt, ỉa chảy, da tím tái. Thời kỳ này có thể chết tới 12 đến 15%.
- Trường hợp lợn con bị phơi nhiễm vào lúc kháng thể từ mẹ truyền đã hết hiệu lực thì chúng bị huyết nhiễm virut từ 3 – 4 tuần lễ và liên tục bài thải virut. Biểu hiện lâm sàng có thể thấy ở lợn 4 – 12 tuần tuổi như kém ăn, lông xơ xác, ho, viêm phổi, mổ khám thấy có nhiều ổ áp xe ở phổi, đôi khi thấy tràn lan khắp cơ thể. Nhiễm trùng kế phát ở thời kỳ này thường rất nghiêm trọng, nhất là lợn 12 – 16 tuần tuổi, tỷ lệ chết lên tới 12% hoặc cao hơn.
Nguyên nhân và các yếu tố gây lây nhiễm:
- Nguyên nhân lây lan quan trọng nhất là trực tiếp từ lợn bệnh sang lợn mẫn cảm, đặc biệt là từ lợn trưởng thành sang lợn con. Việc nhốt lợn trong những ô chuồng lưu cữu bị ô nhiễm mầm bệnh làm nâng cao nguy cơ lây lan bệnh, đặc biệt đối với lợn giai đoạn I và II sau cai sữa. Có nhận xét cho rằng lợn trưởng thành thải virut thời gian ngắn hơn so với lợn choai, lợn choai thời gian thải virut kéo dài từ 1 – 2 tháng.
- Nhập lợn đang mang mầm bệnh vào đàn.
- Nước mũi, nước bọt, phân, nước tiểu của lợn bệnh đều có thể truyền virut gây bệnh.
- Virut có thể truyền lan qua không khí trong phạm vi 3km.
- Giai đoạn máu nhiễm virut của đực giống (thời gian khoảng 3 – 4 ngày) thụ tinh trực tiếp hoặc nhân tạo đều có thể truyền lây bệnh.
- Truyền lan cơ giới như qua phân, nước tiểu, bụi, bụi nước, những thiết bị chăn nuôi, xe cộ, quần áo, giầy ủng bị ô nhiễm.
Chẩn đoán
Trước hết dựa trên các biểu hiện lâm sàng, khám tử thi và đặc điểm dịch tễ của bệnh, song triệu chứng lâm sàng của PRRS cũng có nhiều điểm giống với các dịch bệnh khác của lợn nên cần thiết tìm hiểu sự có mặt của virut trong đàn, được xác minh bởi các xét nghiệm phòng thí nghiệm về huyết thanh học, virut học.
Song song với việc chẩn đoán PRRS virut là mầm bệnh chính, cũng cần thiết chẩn đoán tìm những mầm bệnh gây bội nhiễm khác để có phương hướng phòng trị hiệu quả hơn.
Một đặc điểm cần được lưu ý là kháng thể kháng PRRS virut xuất hiện rất chậm sau khi bị cảm nhiễm virut lần đầu, vì vậy khi lợn có huyết thanh âm tính, không có nghĩa chắc chắn là chúng không còn mang hoặc chưa mang virut. Điều này rất quan trọng khi xác minh một đàn lợn có phải hoàn toàn chắc chắn sạch bệnh không để chọn lợn nhập đàn hoặc thay đàn. Do đó, khi xét nghiệm không chỉ chú ý tới những con nái, mà phải chú ý tới cả lợn cai sữa và lợn nuôi thịt.
Phòng và kiểm soát khống chế bệnh
- Phòng bệnh chung
Để phòng bệnh lây lan xâm nhập đàn, các nhà nghiên cứu chuyên môn nhấn mạnh biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, các chế độ vệ sinh nghiêm ngặt, tuân thủ chế độ nuôi “cùng nhập – cùng xuất”, thực hiện nghiêm chế độ kiểm dịch vận chuyển và giết mổ v.v…
Để khống chế bệnh ở Anh, người ta thực hiện chế độ vệ sinh chặt chẽ, phân lô tách đàn nuôi. Những biện pháp này cũng chỉ giúp đạt một phần kết quả.
- Phòng bệnh bằng tiêm chủng vacxin
Hiện nay, trên thị trường thế giới đang có lưu hành vacxin PRRS sống giảm độc (attenuated-live vaccine). Theo kết luận của những người đã sử dụng thì vacxin này chỉ dùng tiêm cho lợn nái lúc chưa mang thai mới có hiệu quả miễn dịch.
Với nái sinh sản nên tiêm vào 3 – 4 tuần trước khi phối giống và để duy trì mức miễn dịch cao, nên tiêm nhắc lại đều đặn các lần vào trước khi phối giống hoặc cách 4 tháng tiêm một lần.
Với lợn nuôi lấy thịt, cần tiêm một liều lúc 2 – 4 tuần tuổi, tiêm cho toàn đàn đủ để bảo hộ lợn đến khi giết mổ.
___________
Tài liệu tham khảo:
1. Catherine et al., (2003) Department of Population Medicine, Ontario Veterinary College, University of Guelph, Ontario, Canada N1G 2W1.
2. Monte B. McCaw, College of Veterinary Medicine, North Carolina State University, Raleigh, NC 27606.
3. ThePigSite Quick Disease Guide, Porcine Reproductive & Respiratory Syndrome (PRRS) truy cập trên mạng.
4. ThePigSite, INGELVAC (R) PRRS tài liệu truy cập trên mạng.
5. Sunmary of product characteristics Porcilis PRRS truy cập trên mạng.









