Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 04/07/2012 21:01 (GMT+7)

Hoàn thiện kỹ thuật lập hiến đối với Chương V Hiến pháp 1992

Hay nói cách khác, dường như đã tồn tại một phương trình hiến pháp tại Chương V Hiến pháp 1992. Theo đó: Nhân quyền = Quyền hiến định = Quyền luật định. Vì vậy trong sửa đổi Hiến pháp 1992 cần hoàn thiện kỹ thuật lập hiến đối với Chương V Hiến pháp 1992.

Toàn văn Điều 50 như sau: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”.

Phương trình này đặt ra một số thách thức dưới đây:

1. Nhân quyền = quyền hiến định của công dân?

Công thức “các quyền con người ... thể hiện ở các quyền công dân”.

Điều này dẫn đến thách thức thứ nhất cho tiến trình hội nhập quốc tế: nhân quyền ở Việt Nam sẽ đương nhiên khác với thế giới. Vì cái gì không được thể hiện ở “quyền công dân” thì không phải là nhân quyền. Trong khi đa số nhân loại coi nhân quyền mang tính phổ quát (universal), không phân biệt quốc tịch, biên giới. Định nghĩa về quyền con người được trích dẫn nhiều nhất, có hiệu lực pháp lý cao nhất, được bảo đảm thực thi bởi Liên Hợp Quốc, do Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người (Office of High Commissioner for Human Rights) xây dựng có nội dung như sau:

“Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người 1„.

Công thức “các quyền con người... được quy định trong Hiến pháp và luật” đặt ra thách thức thứ hai cho tiến trình hội nhập quốc tế. Việt Nam đang hiểu nhân quyền theo trường phái affirmative (phải được văn bản của nhà nước thừa nhận thì mới thành nhân quyền). Cách hiểu này không được đa phần nhân loại chấp nhận.

Hội nhập quốc tế bằng luật chơi riêng, cách hiểu riêng, tiếp tục đặt Việt Nam trước thách thức trong thực tế đàm phán quốc tế liên quan các vấn đề nhân quyền.

2. Quyền hiến định = quyền luật định?

Hầu hết các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1992 đều có thêm cái đuôi: “Theo quy định của pháp luật”. Mà pháp luật ở đây được hiểu là tất cả các văn bản quy phạm pháp luật từ Luật của Quốc hội cho tới Quyết định của UBND xã Mường Tè. Điều này có nghĩa, quyền cơ bản của công dân (quyền hiến định) = quyền luật định.

Công thức này tiếp tục đặt ra một số thách thức sau:

Làm cho quyền cơ bản của công dân mất ý nghĩa riêng. Vì toàn bộ nội dung tốt đẹp của nó có thể bị thu hẹp qua từng lát kéo của luật, nghị định, thông tư, quyết định, chỉ thị của UBND ba cấp; và trong một số trường hợp nó còn bị thu hẹp bởi công văn – loại văn bản không được chính thức thừa nhận là văn bản quy phạm pháp luật, nhưng trên thực tế vẫn tiếp tục chứa đựng các quy phạm pháp luật. Qua sáu lát kéo nói trên thì phần quyền còn lại trên thực tế có thể khác rất xa về bản chất so với quyền cơ bản của công dân được quy định đẹp đẽ trong Hiến pháp.

Làm cho các quy định của Hiến pháp về quyền cơ bản của công dân không có hiệu lực trực tiếp; không có giá trị áp dụng tại tòa án; không có giá trị bảo vệ công dân trong các vụ kiện. Bởi vì thực tiễn xét xử ở Việt Nam chưa bao giờ áp dụng điều khoản của Hiến pháp để xét xử; trong các bài bào chữa của luật sư cũng không viện dẫn đến các điều khoản hiến pháp.

Quyền hiến định có thể bị treo trên thực tế, nếu không có văn bản chi tiết hóa quyền đó. Điển hình là quyền biểu tình tại Điều 69 Hiến pháp 1992, không kèm theo luật biểu tình, nghị định, thông tư về biểu tình. Ở các quốc gia thừa nhận nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì luật không cấm, thì điều này sẽ mở ra cơ hội tự do vô cùng lớn cho công dân; nhưng ở Việt Nam, do nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì luật không cấm vẫn chưa được thừa nhận và dẫn đến quyền hiến định của công dân tiếp tục bị treo đến khi nào có văn bản hướng dẫn.

Không có tiêu chí để hạn chế sự tùy tiện của các nhà lập pháp, lập quy trong quá trình ban hành các văn bản chi tiết hóa, bảo đảm thực thi các quyền hiến định. Với công thức “theo quy định pháp luật” thì Hiến pháp 1992 đã tin tưởng tuyệt đối trao toàn quyền nhào nặn “các quyền cơ bản của công dân” vào tay các nhà lập pháp, lập quy ở bốn cấp chính quyền.

Thực tiễn hiến pháp một số quốc gia cho thấy, họ đã chia quyền cơ bản của công dân làm ba nhóm:

Quyền hiến định không bị hạn chế bởi bất kỳ văn bản nào khác;

Quyền hiến định có thể bị hạn chế duy nhất bằng một loại văn bản đó là luật của nghị viện;

Quyền hiến định có thể bị hạn chế bằng luật và văn bản dưới luật.

Số lượng các quyền hiến định thuộc nhóm thứ ba không nhiều. Và đối với các quyền hiến định thuộc nhóm này thì có rất nhiều tiêu chí áp dụng để hạn chế sự tùy tiện của các cơ quan lập pháp, lập quy trong quá trình chi tiết hóa các quyền hiến định.

Kiến nghị:


1. Nên thay đổi tên gọi của Chương V hiện nay “Quyền cơ bản của công dân” theo một trong hai hướng. Hướng thứ nhất, đổi tên thành “Quyền con người và quyền cơ bản của công dân” để phù hợp với thực tế Chương V hiện nay không chỉ quy định về quyền cơ bản của công dân mà cả quyền con người. Hướng thứ hai, đổi tên thành “Quyền cơ bản”; với tên này thì có thể hiểu Chương V sẽ quy định cả quyền cơ bản của công dân và quyền cơ bản của con người.

2. Tiến hành phân nhóm các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Trước mắt tiến hành “dán nhãn” (tagging) cho hai nhóm: nhóm quyền chỉ bị hạn chế bởi các đạo luật của quốc hội và nhóm quyền có thể bị hạn chế không chỉ bởi luật mà các văn bản dưới luật (theo luật định”. Theo đó, các quyền cần được xếp vào nhóm thứ nhất gồm các quyền:
Quyền bầu cử tại Điều 54;

Quyền tự do đi lại cư trú ở trong nước, ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về tại Điều 68;
Quyền tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, biểu tình tại Điều 69;

Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tự do tại Điều 71;

Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, thư tín, điện thoại tại Điều 73.

Đây là các quyền vô cùng quan trọng, được bảo vệ ngặt nghèo hơn các quyền còn lại, nên tại các điều khoản vừa nêu, cần tiến hành thay cụm từ “theo quy định của pháp luật” hiện này bằng cụm từ “các quyền tự do này chỉ bị hạn chế bởi một đạo luật do Quốc hội ban hành”.

Đối với các nhóm quyền thuộc nhóm thứ hai, hiện đang được quy định tại các Điều 55, 56, 58, thì việc tiếp duy trì công thức “theo quy định pháp luật” như hiện nay là cần thiết.

3. Cần đưa nguyên tắc, tiêu chí chung hạn chế sự tùy tiện của nhà lập pháp, lập quy vào trong hiến pháp. Cụ thể, cần bổ sung một điều khoản với nội dung sau đây vào Chương V hoặc Chương I Hiến pháp hiện hành 2:

“Việc ban hành các quy định hạn chế các quyền và tự do trong hiến pháp này chỉ được tiến hành khi thực sự cần thiết. Việc hạn chế đến mức nội dung cốt lõi của các quyền tự và tự do hiến định mất ý nghĩa là không được phép.

Công dân có quyền khởi kiện tại tòa án, khi quyền và tự do hiến định của mình bị xâm hại bởi hành vi của các cơ quan công quyền”.
------------------
* Khoa Luật Kinh tế-ĐH Kinh tế TP.HCM

1 OHCHR, Frequently Asked Questions on a Human Right-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, p.1.

2 Xem thêm Võ Trí Hảo (2012), So sánh các quy định về văn hóa, giáo dục, khoa học trong Hiến pháp Trung Quốc và hiến pháp một số nước Đông Nam Á – Những kinh nghiệm có thể tiếp thu , Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (http://nguoibaovequyenloi. com/User/ ThongTin_Chitiet.aspx?MaTT=12031401)

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.